Các câu hỏi trong khóa học
Nhân Gian Phật Giáo & Phu Nhân Thắng Man
Do thầy Thích Pháp Chánh giảng tại Chùa Tịnh Luật
Fairbank, Texas
(1) Hỏi: Kính bạch thầy, xin thầy giảng dùm con câu này, con chưa rõ lắm. “Theo Đại thừa xem trọng thân mình là quí, là đáng giá. Còn nếu những người họ phải hy sinh thân mình để ra chiến trận, hay ngày xưa cũng vậy, họ ra đánh trận cũng xem thân mình nhẹ như lông hồng. Vậy thì những người này không coi trọng thân mình, như vậy là họ có lỗi chăng?”
Trả lời: Đại thừa xem trọng thân người là vì thân người thù thắng trên nhiều phương diện mà trong đó (a) công cụ tu học Phật pháp để thành Phật là thù thắng nhất. Điều này khác hẵn với quan niệm của người thế gian là tôn thờ thân xác để hưởng thọ ngũ dục. Còn như, nếu vì những lý tưởng khác như (b) bảo vệ tổ quốc, (c) cứu vớt chúng sanh, thì những người đó có thể hy sinh thân mạng của họ để thực hiện lý tưởng của mình. Mà nếu được như vậy đức Phật cũng không chỉ trích.
Một điều muốn bổ túc là phần lớn những người chết vì trung nghĩa, như Trần Hưng Đạo, Quan Công, v.v... sau khi chết sẽ đầu thai làm thần (quỷ thần hoặc a tu la), nhưng nếu đem tâm sân hận giết sát nhiều quá, có thể cũng sẽ bị đọa địa ngục.
(2) Hỏi: Con có bốn câu hỏi:
i/ Ngã nhân, nhân ngã đừng cách biệt
Sắc không, không sắc chớ lìa xa
ii/ Phụ mẫu đắc ly trần
Hiếu đạo phương thành tựu.
Nhờ thầy giải thích dùm cho. A Di Đà Phật!
Trả lời:
i/: Câu đầu, ý muốn nói rằng chúng ta đừng phân chia nhân, ngã (mình, người), còn câu kế, lấy ý trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, có nghĩa là “không tức là sắc, sắc tức là không”, không nên thiên trọng một bên, không nên chấp vào một bên mà phải viên dung vô ngại.
ii/: Hai câu này, lấy ý trong kinh Vu Lan, hoặc trong kinh Đại Tạng, có nghĩa là phải làm sao cho cha mẹ được thoát khỏi vòng trần lao sinh tử (luân hồi) thì đó mới là sự trả hiếu chân thật.
(3) Hỏi: Xin thầy hoan hỷ chỉ dạy cho chúng con biết cách thế nào để phân biệt kinh thuộc Đại thừa, pháp Đại thừa và kinh, pháp thuộc Tiểu thừa để chúng con được nhận rõ. Thành kính biết ơn Thầy.
Trả lời: Điều này tuy dễ mà khó. Muốn nhận định cho rõ ràng, điều quan trọng thứ nhất là phải nhờ vào sự biện biệt của vị thầy Đại thừa của mình, còn nếu không thì phải duyệt qua một cách nhanh chóng xem trong kinh có tên những vị Bồ tát mà mình thường hay nghe tên, chẳng hạn như Quán Âm, Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền, hay không. Nếu không có, cũng chưa thể quyết đoán, lại phải nhờ đến các bậc thiện tri thức Đại thừa biện biệt cho mình. Hơn nữa, nếu chịu khó học tập Phật pháp Đại thừa một thời gian thì cũng có thể tự mình biện biệt một cách dễ dàng.
Phụ chú: Kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa đều là do đức Phật (Thích Ca) giảng nói. Chỉ vì muốn cho người sơ cơ, mới phát tâm đi vào ngưởng cửa Đại thừa không đánh mất lòng tin đối với lý tưởng Đại thừa cho nên khuyên nhắc họ chưa nên đọc các kinh điển Tiểu thừa, hoặc khuyên họ không nên thân cận những học giả Tiểu thừa (xem kinh Pháp Hoa), đợi khi nào hàng sơ học này đã có đủ tín tâm, có đủ sự phán quyết vững chãi, thì lúc đó muốn học kinh nào, đọc kinh nào cũng được. Ngay trong Đại thừa cũng thế, chẳng hạn như các hành giả mới tập tểnh tu tập Tịnh Độ, cầu vãng sanh về cõi Cực Lạc, thì không nên thân cận các hành giả Thiền tông vì sợ họ làm lạc hướng đi của mình (xem Niệm Phật Thập Yếu – Thích Thiền Tâm). Đây là vì muốn tâm được chuyên nhất, sự học mau tiến bộ, mau có kết quả mà làm như vậy, chứ không phải vì tâm tự tôn, tự đại, hoặc muốn chia rẽ tông phái. Xin quý vị hiểu cho.
(4) Hỏi: Bạch thầy, (a) xin thầy nhắc lại 5 tông phái (Đại thừa) dùm con. Và (b) “Tín vi dục y”, xin thầy nhắc lại nghĩa. Cám ơn thầy.
Trả lời:
(a) Bên Trung Hoa có mười tông phái, tám tông thuộc Đại thừa và hai tông thuộc Tiểu thừa. Tám tông thuộc Đại thừa là 1/ Hoa Nghiêm Tông, 2/ Pháp Hoa Tông, 3/ Tam Luận Tông, 4/ Duy Thức Tông, 5/ Luật Tông, 6/ Tịnh Độ Tông, 7/ Thiền Tông, 8/ Mật Tông. Hai tông thuộc Tiểu thừa là 9/ Câu Xá Tông, và 10/ Thành Thực Tông. Nếu muốn hiểu rõ giáo nghĩa của các tông phái này xin xem quyển Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo do thầy Tuệ Sỹ dịch.
(b) “Tín vi dục y, dục vi cần y”. Tín (lòng tin) là chỗ y tựa của lòng tha thiết (dục, nguyện dục), còn lòng tha thiết là chỗ y tựa của sự tinh tiến hành trì (cần, tinh cần, siêng cần).
(5) Hỏi: Kính bạch Thầy, một Phật tử đã thọ Thập thiện, đã nguyện Phát Bồ Đề Tâm mà chưa muốn thọ Bồ Tát Tại Gia thì có đúng pháp không? Xin thầy dạy cho.
Trả lời: Nếu như đã Phát Bồ Đề Tâm thì nhất định sẽ muốn thọ giới Bồ tát. Còn như trong câu hỏi, “đã nguyện Phát Bồ Đề Tâm”, thì có lẽ người đó chỉ mới móng tâm muốn phát Bồ Đề Tâm thôi, chứ chưa thực sự phát. Nếu chưa thực sự phát tâm và chưa muốn thọ giới Bồ tát thì không có lỗi gì cả, thế nhưng, muốn tu học và thăng tiến trên con đường Bồ tát thì phải nên chánh thức phát tâm Bồ đề và thọ giới Bồ tát.
(6) Hỏi: Kính bạch Thầy.
1/ Chữ KHÔNG trong đạo Phật nghĩa là gì? Chữ KHÔNG có đồng nghĩa với chữ VÔ hay không?
2/ Tứ y chỉ của Bồ tát là gì?
Trả lời:
1/ Chữ KHÔNG trong Đại thừa có nghĩa là tất cả các pháp (sự vật) đều không có tự tánh, đều do nhiều nhân duyên hòa hợp mà thành. Còn chữ VÔ có nghĩa là không có gì hết (nil). Như vậy KHÔNG và VÔ có ý nghĩa hoàn toàn khác biệt. Tiếng Anh dịch chữ KHÔNG là EMPTINESS, hoặc VOID, là chưa hoàn toàn biểu đạt hết ý nghĩa của nó.
2/ Tứ y chỉ (bốn hạng người có thể làm y chỉ cho Bồ tát sơ cơ): Có nhiều quan điểm khác nhau, ở đây y theo sự giải thích của Thiên Thai Tông, (a) hàng ngũ phẩm (phàm phu còn phiền não nhưng có đủ chánh tri chánh kiến) là sơ y, bậc Thập Trụ là nhị y, bậc Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng là tam y, bậc Thập Địa, Đẳng giác là tứ y.
(7) Hỏi: Kính bạch Thầy.
a/ Người tu Bồ tát hạnh muốn biết rõ bản đồ tu hành từ phàm đến thánh sẽ qua bao nhiêu chặng đường. Nếu chỉ nghe qua như là: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập Hồi Hướng, v.v…, nghe như vậy chúng con rất mơ hồ. Kính xin thầy cho chúng con đường tu rõ ràng hơn! Nếu trong thời gian này có thể vì thời gian quá ít không thể trả lời chi tiết được, thì chúng con xin đề nghị trong thời gian tới, thầy sẽ giảng đề tài: Từ phàm đến Thánh.
b/ Một chúng sanh có thể vãng sanh bao nhiêu lần?
c/ Tu Bồ tát đạo có cần vãng sanh?
d/ Nếu được lên Cực Lạc rồi, người tu Bồ tát hạnh sẽ làm gì kế tiếp?
e/ Người tu Tịnh độ cầu vãng sanh! Nhưng không có phát Bồ đề tâm, chỉ mong muốn cho bản thân mình được vãng sanh mà thôi! Như vậy có được vãng sanh không?
f/ Muốn thành Phật có phải tu đường Bồ Tát Đạo?
g/ Tại sao có thầy nói là Thiện Tài đồng tử gặp 52 hay 53 tham vấn thiện tri thức? Số nào đúng?
Xin cảm niệm công đức của thầy! A Di Đà Phật!
Trả lời:
a/ Muốn biết rõ ràng chi tiết của các giai vị Bồ tát Đại thừa, có thể đọc Hoa Nghiêm Kinh (rất chi tiết), ngoài ra còn có nhiều kinh luận khác cũng đề cập đến. Thế nhưng, cũng không nên quá thắc mắc về điều này. Thứ nhất, trên con đường tu tập, nếu mình mỗi ngày một thăng tiến, thì sẽ có các bậc thiện tri thức thị hiện đến chỉ dẫn mình những bước đi kế tiếp. Thư hai, nếu tu pháp môn Tịnh Độ cầu vãng sanh Cực Lạc, thì hãy chuyên tâm niệm Phật vãng sanh, đợi khi về đó rồi, đức A Di Đà, cùng các bậc đại thiện tri thức sẽ chỉ dẫn mình một cách rõ ràng đầy đủ. Từng bước từng bước mà tiến tu (one step at a time). Đừng nên bôn chôn, vội vã.
b/ Vãng sanh, nếu được hiểu theo nghĩa Phật pháp, thì là sự vãng sanh về Tây phương Cực Lạc. Nếu hiểu theo nghĩa này, thì chỉ vãng sanh một lần. Sau khi về Cực Lạc rồi, sẽ sống lâu vô lượng a tăng kỳ kiếp, cho đến khi thành Phật.
Còn như nếu hiểu theo nghĩa chữ Hán thông thường (không có ý nghĩa Phật pháp), thì vãng sanh chỉ có nghĩa là đầu thai đến nơi khác, như vậy, mỗi lần chết là một lần vãng sanh (vãng, chữ Hán, có nghĩa là đi đến chỗ khác).
c/ Hành giả tu Bồ tát đạo, nếu muốn thường thường được thân cận các bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn cho mình phương cách tiến tu để không bị thoái chuyển, không sợ bị đọa lạc, thì hãy mau mau phát tâm tu Niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, cõi Phật A Di Đà. Đợi đến khi nào thành tựu Tâm Bồ Đề (sơ trụ) thì có thể nguyện trở lại Ta Bà làm Phật sự độ chúng sanh.
Giả như, mới phát tâm Bồ đề, mới tập tểnh tu tập Bồ tát đạo mà vội vàng phát nguyện đi vào sanh tử độ chúng sanh thì e rằng đó chỉ là hý luận.
d/ Sau khi đã được lên Cực Lạc, đương nhiên đức A Di Đà và các vị đại thiện tri thức sẽ hướng dẫn mình tu hành. Điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để được vãng sanh!
e/ Có nhiều quan điểm khác nhau, nay chỉ nêu lên một vài quan điểm chính: (i) Theo kinh Vô Lượng Thọ, ba phẩm vãng sanh thượng, trung, hạ đều cần phải phát tâm Bồ đề; (ii) Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, hàng hạ phẩm hạ sanh đến lúc lâm chung, nhờ thiện tri thức nhiếp thọ, cũng được vãng sanh mà không cần phát tâm Bồ đề; (iii) Theo trường phái Tịnh Độ Chân Tông, Nhật Bổn, thì nếu đặt lòng tin tưởng tuyệt đối vào bổn nguyện của đức A Di Đà cũng sẽ được vãng sanh. Giả như đem tâm ích kỷ, cầu hưởng lạc, chỉ muốn về đó để hưỡng thọ ngũ dục, hoàn toàn không nghĩ đến việc lợi lạc chúng sanh, thì theo thiển ý của người giải thích, người đó khó được vãng sanh (không có nghĩa là tuyệt đối không được).
f/ Muốn thành Phật dĩ nhiên phải tu Bồ Tát Đạo, nếu không tu Bồ tát đạo, sẽ lạc vào ngoại đạo, hoặc Tiểu thừa.
g/ Số mục không nhất định, 52 hoặc 53 đều đúng. Năm mươi hai (52) biểu trưng cho Thập Tín (10), Thập Trụ (10), Thập Hạnh (10), Thập Hồi Hướng (10), Thập Địa (10), Đẳng Giác (1) và Diệu Giác (1); còn năm mươi ba (53) là cộng thêm giai vị Càn Tuệ Địa (1). Thành thử không có sự mâu thuẫn.
(8) Hỏi: Tại sao nhiều Phật tử hành trì chú Đại Bi? Cách hành trì phải như thế nào để thật sự đạt lợi lạc nhất?
Trả lời: Chú Đại Bi là do đức Quán Thế Âm nói ra với mục đích là làm lợi ích cho chúng sanh. Chú này dựa trên bổn nguyện Đại bi của ngài, cho nên rất là linh ứng. Vì lý do này, chú Đại Bi được nhiều Phật tử ở Việt Nam và Trung Hoa trì tụng. Muốn biết cách hành trì thế nào để được nhiều lợi ích thì nên tìm đọc quyển Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh do ngài Thích Thiền Tâm dịch.
(9) Hỏi: Kính xin Thầy từ bi cho con được biết là có thể xem việc hành trì chú Đại Bi với tâm nguyện chia sẻ sự lợi lạc của thần chú đó cho chúng sanh mọi loài là một phương pháp tăng trưởng Bồ Đề Tâm không ạ? Con kính tri ân Thầy.
Trả lời: Quả đúng như vậy! Tốt hơn hết, trong khi trì tụng nên quán tưởng mình là đức Quán Thế Âm ban rải tình thương đến mọi loài chúng sinh trong lục đạo.
(10) Hỏi: Kính xin Thầy chỉ dạy cho con “Bố thí nhiếp pháp” có cần đi đôi với trí tuệ để gieo duyên (có sự chọn lựa đối tượng) với chúng sinh không làm trở ngại việc Phát Bồ Đề Tâm không? Con kính tri ân Thầy.
Trả lời: Tứ nhiếp pháp là phương tiện thiện xảo của Bồ tát (nghĩa là người đã phát Bồ đề tâm tu Bồ tát hạnh) để nhiếp hóa chúng sanh. Tứ nhiếp pháp rất cần đến trí tuệ, để có thể quán xét căn tính chúng sanh (chọn lựa đối tượng, đáng dùng pháp nào để độ họ thì dùng pháp đó) mà nhiếp độ họ một cách dễ dàng. Trí tuệ ở đây là sự quán xét bình đẳng, khác với tâm phân biệt nhân ngã của người thế gian, do đó không những không chướng ngại mà còn tăng trưởng tâm Bồ đề của mình.
(11) Hỏi: Kính bạch Thầy, xin Thầy giải thích cho chúng con rõ.
1/ Một người đã là Phật tử, chỉ vì bất mãn một người mà mình đã đặt nhiều tình cảm cá nhân, mà có lời mạ nhục đến một vị tăng, lại còn ngấm ngầm chia rẽ, con xin nói đến đây mà thôi … Con biết muốn đi vào con đường tu trì thì phải nắm cho rõ về nhân quả. Xin Thầy cho con biết như vậy (người đó) có bị liệt vào hàng “nhứt xiển đề” không?
2/ Con thọ Bồ tát giới tại gia 4 năm rồi mà con chưa có pháp hiệu, có sao không?
Trả lời:
1/ Người đó tuy chưa hẵn liệt vào hàng nhứt xiển đề, nhưng đang gây tạo khẩu nghiệp, nếu như nghiêm trọng, làm cho tăng đoàn chia rẽ, rạn nứt, thì phạm vào tội vô gián “phá hòa hợp tăng”. Hơn nữa, làm như thế, lâu ngày sẽ thành thói quen, dần dần mất tín tâm đối với Tam bảo, không còn tin tưởng Phật pháp, trong tương lai có thể sẽ trở thành một nhứt xiển đề.
2/ Thọ Bồ tát giới với ai mà lại không có pháp hiệu? Nếu như vào thọ một cách lén lút, không chính thức, thì do vì không tôn trọng các vị tăng truyền thọ (không kính tăng), không thể đắc giới Bồ tát. Còn nếu như ban tổ chức truyền giới sơ suất, không cho pháp hiệu, thì mình có thể yêu cầu vị thầy truyền giới, hoặc vị trụ trì nơi mà mình thọ giới, ban cho mình. Tự nhận đã thọ Bồ tát giới bốn năm mà không có pháp hiệu, thì e rằng mình chỉ mạo nhận là Bồ tát, vì khinh mạn Tam bảo nên không được sự gia trì của Tam Bảo, tất cả công đức đã tạo không thể hồi hướng về Vô thượng Bồ đề. Nếu như thực có tâm muốn làm Bồ tát, thì nên thành tâm xin thọ lại và xin vị thầy truyền giới ban cho mình một pháp hiệu chính thức.
Phụ chú: Nếu như thọ giới Bồ tát Tại gia tại một đạo trường không chủ trương ban pháp hiệu thì dĩ nhiên là không có vấn đề. Có thể dùng pháp danh thay cho pháp hiệu. Nhưng nếu đã đến tu tập (dài lâu) tại một đạo trường chủ trương có pháp hiệu, thì cũng nên bạch với vị trụ trì ban cho mình một pháp hiệu, để khỏi cảm thấy “lạc loài”.
|