GIẢI ĐÁP CÂU HỎI TRONG KHÓA HỌC
“QUÁN KINH TỨ THIẾP SỚ”
TẠI CHÙA TỊNH LUẬT NGÀY 27-29 THÁNG 11, 2009
Do thầy Thích Pháp Chánh giảng tại Chùa Tịnh Luật
Fairbank, Texas, ngày 27-29 tháng 11, 2009
Câu hỏi # 1:
A Di Đà Phật,
Thưa Thầy,
Trước hết con kính cảm ơn Thầy và Thầy Pháp Quang đã dày công nghiên cứu, dịch thuật, hiệu đính, ấn hành và thậm chí thân hành qua đây để giảng cho chúng con học Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ.
Tuy quyển sách chỉ vài trăm trang thôi, nhưng con có thể thấy được công của hai Thầy vô lượng. Có thể nói đây là cẩm nang cho hành giả tu Tịnh Độ. Nếu chúng con có được một chỉ nam tu tập trong tay mà không tu tập theo thì vô cùng đã đắc tội vì đã bỏ phí đi công của hai Thầy. Cho nên con cố gắng học theo.
Thưa Thầy, theo sự hiểu biết thiển cận của con thì tinh thần của quyển sách này chỉ gói trọn trong 4 chữ là “Hệ Niệm Bất Loạn”, phải không thưa thầy?
Con xem trong Hán Việt tự điển thì “Hệ Niệm” là thường nghĩ tới luôn. Còn chữ Bất Loạn theo như con hiểu qua cách Thầy giảng là không loạn bởi những tạp tu theo các pháp môn khác, chứ không phải Bất Loạn là không bị loạn hoặc dừng hẳn mọi ý niệm trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Nếu con có hiểu sai, xin Thầy chỉ dạy con thêm.
Con còn nhớ có một lần đó, con và một vài Phật tử ngồi nói chuyện với Thầy Pháp Quang. Thầy có nói nửa thật nửa đùa với chúng con như vầy: “Quý vị tập làm sao nhớ Phật A Di Đà như nhớ người yêu là bảo đảm vãng sanh.”
Và trong khóa học này con lại được Thầy dạy trong phần Viên Thông về Kiến Đại có viết “Nếu hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm niệm thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời này sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau.” Thưa Thầy, cái tâm trạng này, người phàm tục chúng con thường gọi là “Tương Tư”, có phải không ạ?
Con nghĩ nếu dung động từ này để diễn tả thay vì dung động từ trong đạo “Hệ Niệm” chắc đa số mọi người sẽ hiễu dễ dàng hơn, vì trong cuộc đời, người phàm nào cũng ít nhất bị tương tư một lần, nên họ có kinh nghiệm tâm trạng đó thế nào khi nhắc đến hai chữ này. Nhưng vì động từ này có tính cách phàm tục, diễn tả sự nhớ nhau luyến ái của nam nếu không muốn nói đến ái dục thì nếu không cẩn trọng sử dụng sẽ có rất nhiều sự hiểu lầm, vì tâm phàm sẽ suy nghĩ diễn dịch sai lệch.
Nếu nói “tương tư Đức Phật A Di Đà” thì tâm kẻ phàm chắc họ hơi khó chấp nhận vì họ sẽ nghĩ một là mình bất kính với Ngài, hoặc là hang giả đó bị tẩu hỏa nhập ma rồi chắc.
Con cũng tìm trong Hán Việt từ điển để xem động từ TƯƠNG TƯ này có mang hàm ý gì xấu không. Nhưng nó chỉ nói “TƯƠNG” có nghĩa là tương tác qua lại lẫn nhau, TƯ là nghĩ tới, không có mang hàm ý gì là sự luyến ái hay ái dục giữa nam nữ. Cho nên con nghĩ rằng nếu nói “tương tư đức Phật A Di Đà thì không có mang tội. Nhưng để tôn nghiêm hơn con thêm vào đó chữ KÍNH trở thành KÍNH TƯƠNG TƯ hay là CHÂN TƯƠNG TƯ.
Con rất thích 4 chữ HỆ NIỆM BẤT LOẠN, vì theo như con nghĩ nó như là một câu chú để giải thoát hoặc giải phóng những hành giả nào bị khổ hạnh trong cách tu tập NHẤT TÂM BẤT LOẠN. Và chỉ bốn chữ này thôi cũng đủ để giúp cho mọi người biết cách niệm Phật thế nào cho có kết quả, rất là thoáng và nhẹ nhàng, không bị gò bó hoặc ép bức tâm để được nhất tâm. Không được nhất tâm lại mang một khổ sở phiền não khác.
Bây giờ nếu ai hỏi con hành trì pháp môn niệm Phật thế nào, con sẽ trả lời với hai câu chú tâm đắc nhất của con là HỆ NIỆM BẤT LOẠN, hoặc là KÍNH TƯƠNG TƯ ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ.
Thầy Pháp Quang rất lo cho chúng con. Thầy thường thử thách xem chúng con niệm Phật có tâm cầu vãng sanh không. Nếu không thì tất cả những cách niệm Phật trở thành Thiền hết.
Những lúc sau này, vì bận rộn nên con không có dịp để theo Thầy Pháp Quang học hỏi thêm. Có thể Thầy có dạy cho chúng co thêm nhiều điều hay mà vì con không có dịp để tiếp thu.
Con không biết nói làm sao để cám ơn hai Thầy. Con chỉ cố gắng thực hành và giờ đây con không còn phải lo đến vấn đề được nhất tâm hay không. Vì hệ niệm bất loạn là cách mà con thường hành trì bấy lâu nay, nhưng vì con còn kẹt bởi quan niệm nhất tâm bất loạn nên đôi khi con vẫn ngờ vực là cách tu của con chưa chắc gì được vãng sanh. Hôm nay được Thầy khai tâm thêm, con rất mừng là con không đi sai đường.
Con rất tinh Đức Phật A Di Đà, con nghĩ rằng giả sử có một vị thánh nào đó từ cõi Cực Lạc về đây báo rằng cái diện Đới Nghiệp Vãng Sanh ở cõi Cực Lạc mà Đức Thích Ca đã giới thiệu mấy ngàn năm trước đó, nay đã không còn hiệu nghiệm. Đức A Di Đà không còn nhận chúng sinh theo diện đó nữa mà người nào muốn về cõi Ngài thì phải đọa địa ngục để trả hết nghiệp rồi sau đó mới trực tiếp vãng sanh về cõi Ngài, thì con cũng chấp nhận đọa trước rồi vãng sanh sau. Bây giờ con đã có niềm tin vững chắc vào Đức Phật A Di Đà rồi, Thưa Thầy.
Lâu rồi con không có trình pháp với Thầy và Thầy Pháp Quang. Email của con dài quá, chắc làm tốn nhiều thời gian của Thầy. Con xin dừng ở đây.
Con kính chúc Thầy luôn có nhiều sức khỏe và năng độ sở độ được viên mãn.
DN
Trả lời:
Tinh thần của Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, theo bổn ý của ngài Thiện Đạo, quả đúng như lời DN nói, là muốn chúng sanh đời mạt pháp nhất tâm hệ niệm cầu vãng sanh Cực Lạc. Còn như vấn đề dùng chữ TƯƠNG TƯ, KÍNH TƯƠNG TƯ, CHÂN TƯƠNG TƯ đều xác đáng. Đó cũng chính là danh từ thầy muốn dùng để diễn tả nhưng e có sự hiểu lầm.
Thật sự, ý nghĩa của ngôn từ biến đổi theo thời gian và địa phương, ngoài ý nghĩa của chữ Tương Tư bị biến đổi, còn nhiều chữ khác nữa, chẳng hạn như chữ TÌNH TỰ. Thật sự TÌNH TỰ chỉ có nghĩa là giải bày tâm tình (TỰ là giải bày), thế nhưng người Việt Nam mình dùng theo ý nghĩa khác, có nghĩa là sự âu yếm trai gái. Do đó, chữ TƯƠNG TƯ, tuy có thể diễn tả sống động hơn, nhưng thầy thiển nghĩ, mình vẫn dùng chữ HỆ NIỆM là thích đáng nhất. Nếu không mấy cụ bà sẽ la làng cho mà chết.
Theo những dòng thư mà thầy được đọc, thầy có cảm nhận rằng DN đã đạt được một tâm đắc sâu xa trong pháp môn Tịnh Độ và đã đạt được long tin bất hoại nơi đức A Di Đà. Cầu mong DN sẽ được thành tựu rộng lớn trong việc hành trì Tịnh Độ và hộ trì Phật pháp.
Câu hỏi # 2
Kính thưa thầy:
Kính thầy tóm tắt đại ý: muốn tu Tịnh độ để được vãng sanh theo ngài Thiện Đạo là Quán tưởng hình tượng hay là niệm danh hiệu (đức A Di Đà)?
Trả lời:
Ngài Thiện Đạo giải nghĩa Quán Kinh với mục đích trình bày Bổn Nguyện của đức A Di Đà là tiếp dẫn những phàm phu tội chướng vãng sanh Cực Lạc. Tuy ngài cũng giải thích các pháp quán, nhưng ý chính của ngài là muốn chúng ta niệm (nhớ) Phật đến mức Hệ Niệm Bất Loạn, giống như ý nghĩa của chương Đại Thế Chí Viên Thông mà thầy đã giảng trong khóa học.
Câu hỏi # 3
Nam mô A Di Đà Phật.
Có vị chủ trương thiền tịnh song tu. Con rất hoang mang, tu cả hai pháp môn một lúc, có nên chăng? Mong thầy chỉ dạy cho.
A Di Đà Phật.
Trả lời:
Thiền Tịnh Song Tu, bốn chữ này lấy ý từ bài kệ Tứ Liệu Giản của Thiền sư Vĩnh Minh, tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Mục đích của bài kệ là cảnh tỉnh những thiền sư đã khai ngộ, muốn cho công phu không bị gián đoạn bởi phần đoạn sanh tử, phải mau chuyển tu Tịnh Độ cầu vãng sanh Cực Lạc, về cõi đó tiếp tục tu hành. Người tu thiền, dù đã khai ngộ, nếu chuyển qua đời khác, vẫn có thể bị mê mờ và bị trầm luân. Lối Thiền Tịnh Song Tu này không phải kêu những hành giả sơ cơ mới bắt đầu tu Tịnh Độ phải nên tu thêm Thiền. Nếu hiểu theo lối này, âu là một sự lầm lẫn cực điểm. Thiền và Tịnh không thể song tu. Chữ Thiền ở đây nên hiểu là Thiền Đốn Ngộ (Tổ Sư Thiền) chứ không phải là một lối an tâm hít thở thông thường. Thiền là từ Không (vô tướng) đi vào, Tịnh là từ Hữu (hữu tướng) đi vào. Hai lối tu tương phản, làm sao có thể song tu được. Hành giả Tịnh Độ sơ cơ chỉ nên chuyên chú vào pháp tu của mình là niệm Phật, và hệ niệm bất loạn là đủ. Không nên quơ quào nhiều thứ rồi rốt cuộc không được gì, chỉ thêm tăng trưởng sự nghi ngờ vào pháp môn Tịnh Độ.
Câu hỏi # 4
Kính thưa Thầy:
Trong hoàn cảnh hiện tại, con chỉ có thể niệm Phật A Di Đà, không thể ngồi quán tưởng như trong Quán kinh đã dạy. Như vậy, chỉ niệm Phật không thì có đủ không?
Trả lời:
Quán Kính tuy dạy 13 pháp quán (định thiện), nhưng theo bổn ý của ngài Thiện Đạo là muốn hành giả Niệm Phật. Như đã giảng trong khóa học, chỉ cần Hệ Niệm Bất Loạn là đủ để vãng sanh. Ý nghĩa này, câu hỏi # 1 đã nói rất tường tận.
Câu hỏi # 5
Kính thưa Thầy:
Con muốn hỏi về nghiệp cận tử. Nếu lúc mình lâm chung, mình niệm Phật hướng thiện, thì nếu mình tái sanh, đúng ra mình phải có cơ duyên tu học lúc trẻ. Vậy tại sao ít thấy tuổi trẻ tu học vậy thầy? Có phải vì đạo Phật không thích hợp với tuổi trẻ?
Trả lời:
Cô muốn nói đời trước mình có thiện duyên thành thử đời này mình mới niệm Phật hướng thiện, nếu vậy tại sao mình lại không học Phật từ lúc trẻ. Có phải ý nghĩa muốn hỏi là như vậy không? Xin thưa rằng dù là mình có thiện duyên với pháp môn Tịnh Độ từ quá khứ, nhưng khi chuyển thế, mình đã bị trần cảnh làm cho mê muội, chỉ sau khi trải qua nhiều sự khổ đau, thử thách, thiện căn đời trước mới bộc phát trở lại. Còn vấn đề ít thấy tuổi trẻ học Phật có nhiều lý do:
1/ Người ít phước không gặp được Phật pháp.
2/ Thành kiến của mọi người cho rằng đạo Phật là hủ lậu, chán đời, vô trách nhiệm đối với xã hội, nhân quần.
3/ Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại vẫn bám chặt vào truyền thống thủ cựu, không dám thích ứng với thời đại, mà quá chú trọng vào những lễ nghi cúng kiến, v.v … khiến cho những người trẻ không thấy hứng thú.
4/ Đạo Phật Việt Nam, tuy đa số tự xưng là Đại thừa, nhưng vẫn quá đề cao sự xuất ly, thoát trần, ít khi nhấn mạnh đến tinh thần phục vụ cuả Bồ tát đạo, như vấn đề từ thiện xã hội, y tế, văn hóa, v.v…
Do những lý do trên, phần lớn chỉ có những người lớn tuổi tìm đến đạo Phật để tìm những an ủi tâm linh, tính ngưỡng. Đây là một mối lo ngại rất lớn. Nếu tiếp tục bước theo chiều hướng này, Phật giáo Việt Nam tại Mỹ sẽ đi đến chỗ diệt vong.
Câu hỏi # 6:
Thưa Thầy,
1/ Người theo đạo Hồi ôm bom tự sát giết người tập thể có được A Di Đà rước không? Con trả lời là “được”, nhưng đại chúng không tin. Chỉ tại người theo đạo khác không muốn theo Ngài Di Đà chứ không phải là Ngài Di Đà không rước.
2/ Bên đạo Chúa họ thường nói I LOVE MY GOD. Nhưng bên đạo Phật thì con ít thấy ai nói I LOVE ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ chỉ sợ bất kính. Mọi người kính Ngài như một vị cao siêu để thờ và có nhiệm vụ lễ lạy tụng niệm hàng ngày, không dám tạo một sự thân thiện với Ngài. Nghĩ rằng giữa Ngài và mình có một khoảng cách rất lớn. Cho nên sau cái nhiệm vụ lễ lạy xong rồi thì Ngài là Ngài, mình là mình. Cho nên vẫn đau khổ, vẫn tạo nghiệp, vẫn giải đãi (đây là kinh nghiệm của con). Cho nên con làm sao để tưởng Ngài đang song hành hay đang ở bên con trong cuộc sống. Như vậy con mới hệ niệm Ngài bất loạn dễ hơn, có được không thưa thầy?
Con
DN
Trả lời:
1/ Học pháp hiểu được nguyên tắc, nhưng khi giảng pháp phải nên cẩn thận. Giảng sao cho đại chúng tăng thêm lòng tin, chứ đừng để họ tăng thêm nghi ngờ. Vả lại, khi giảng không nên đem những thí dụ quá khó, e mình sẽ không giải quyết nỗi sự mâu thuẩn. Trên nguyên tắc, người đạo Hồi không thể vãng sanh (vì họ không tin nhân quả, không tin Đại thừa), khi họ ôm bom tự sát giết người tập thể, thì việc đầu tiên xảy đến cho họ là họ sa ngay vào địa ngục. Còn việc vãng sanh Cực Lạc sau này, thì đó là chuyện tương lai. Chúng ta không thể “giảng” một cách “thẳng thừng” là ôm bom tự sát vẫn vãng sanh Cực Lạc, nghe có vẻ như đi ngược nhân quả. Đức A Di Đà cũng không thể đi ngược lại nhân quả, và điều kiện tiên quyết để được vãng sanh Cực Lạc là LÒNG TIN, không TIN thì không vãng sanh. Giản dị như vậy. Điều thầy nói ở đây cũng giống hệt như những gì như DN muốn nói, nhưng phải nói khéo léo hơn. Đó là điều quan trọng!
2/ Việc sử dụng từ ngữ thuộc vào văn hóa khác nhau. Văn hóa Đông phương quá chú trọng để lễ nghi, tôn kính, do đó mọi người đều đè nén, không dám biểu lộ tình cảm của mình ra ngoài cho người khác biết. Thế nhưng, đạo Phật đã đến xã hội Tây phương thì cũng phải thích nghi văn hóa của họ. Những người lớn tuổi còn câu nệ vào văn hóa cũ thì không nói đến, nhưng nếu dạy các trẻ em học Phật, thì chúng ta cũng không ngại gì trong việc dạy chúng Phật pháp, nói câu: “I LOVE MY BUDDHA” hoặc “I LOVE AMITABHA BUDDHA”. LOVE chỉ là biểu đạt lòng thương dạt dào đối với đối tượng của mình, chẳng hạn “ I LOVE MY MOM”, “I LOVE MY DAD”, đâu có gì là tội lỗi. Chữ LOVE đâu có ý nghĩa xấu xí gì mà mình phải tránh né. Giả sử mình tiếp xúc với người Mỹ, mình cứ tự nhiên bày tỏ “I LOVE MY BUDDHA, SYSKHA MUNI”. Đây là điều xác đáng và hợp lý.
Pháp môn Tịnh độ khác với tu Thiền là Tịnh độ chú trọng đến TÌNH CẢM. Phải có TÌNH CẢM mới tu Tịnh độ được. Xem Đức A Di Đà là một người cha, một người mẹ, hoặc một người mà mình KÍNH YÊU để dùng đó làm phương tiện cho sự HỆ NIỆM BẤT LOẠN, KÍNH TƯƠNG TƯ, CHÂN TƯƠNG TƯ đều được. Tất cả đều chỉ là phương tiện giúp cho mình được VÃNG SANH CỰC LẠC, và đây là điều chính yếu. Câu nệ vào hình thức, hoặc câu nệ vào các truyền thống cũ xưa, lỗi thời đều không thích hợp với người tu ĐẠI THỪA BỒ TÁT HẠNH.
Câu hỏi # 7:
Kính thưa Thầy! Những người tạo tội ngũ nghịch, phỉ báng Chánh pháp có được vãng sanh theo pháp đới nghiệp vãng sanh hay không? Con cảm ơn Thầy.
Trả lời:
Như đã giảng trong khóa học, tạo tội ngũ nghịch, nếu lúc lâm chung gặp thiện tri thức khuyên bảo niệm Phật cầu sanh, nếu người tạo tội biết sám hối, tin theo lời khuyên niệm Phật thì được vãng sanh Hạ phẩm hạ sanh. Còn như người phỉ báng chánh pháp, vì không tin chánh pháp, ắt không tin đức Phật Di Đà, không tin cho nên Phật không đến rước. Giả như người đó chuyển tâm, không còn phỉ báng mà lại phát tâm tin tưởng, giống như trường hợp người tạo ngũ nghịch, thì đức A Di Đà sẽ đến rước.
Câu hỏi # 8:
Kính thưa Thầy,
Mong thầy hoan hỷ cho con được rõ hơn những phần sau đây để con ghi nhận tu học mong cầu giác ngộ, mong cầu giải thoát.
Trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, trang 13, 14, đoạn Thượng Phẩm Thượng Sanh được vãng sanh
1/ Chỉ cần trì giới, tu tập từ bi (con tâm đắc phần 1 này), nhưng còn phần 2 và 3:
2/ Không thể trì giới, tu tập từ bi, chỉ đọc tụng kinh điển Đại Thừa?
3/ Không trì giới, không tụng kinh, chỉ niệm Phật, Pháp, Tăng?
Đi tiếp qua trang 74, phần d/ Lời đức Phật dạy: Khuyên tu ba phước mới được về cõi ấy:
1/ Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành.
2/ Thọ trì Tam quy, giữ vẹn các giới, đừng phạm oai nghi
3/ Phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh Đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Ba điều như thế gọi là tịnh nghiệp.
Kính mong thầy hoan hỷ chỉ dạy cho hàng PT cư sĩ tại gia chúng con rõ để tha thiết tu tập cho chuẩn, đúng sâu như lời chư Phật dạy để cầu được Vãng Sanh. Con rất chân thành cảm tạ ơn Thầy.
Nam mô A Di Đà Phật
Kính
PT. NH
Trả lời:
Như cô vừa trình bày, đoạn văn Thượng Phẩm Thượng Sanh có vẻ như mâu thuẫn với lời Phật dạy trong phần Ba Phước. Thật sự, lời chư Phật dạy hoàn toàn không có sự mâu thuẫn. Hành giả trong phần Thượng Phẩm Thượng Sanh là những người thượng căn thượng trí. Họ không làm thì thôi, nhưng nếu họ làm thì họ sẽ chuyên tâm nhất ý. Nói không thể trì giới, tu tập từ bi, không có nghĩa là họ không trì giới được, hoặc họ không có tâm từ bi, mà có nghĩa là những người này họ chuyên tu một hạnh (tụng kinh chẳng hạn) và họ không có thì giờ rãnh để tu các pháp khác. Giả như các nhà tu thiền, đôi khi có vẻ như không câu nệ vào giới luật, nhưng không có nghĩa là họ xem thường, hoặc không chịu trì giới, nhưng đối với những người này, thiền định là chính, các việc khác là phụ. Nếu họ quy hướng Tịnh độ, cầu vãng sanh thì đây là những hành giả Thượng Phẩm Thượng Sanh. Lời văn trong kinh vắn tắt, gây nhiều hiểu lầm. Các phần khác trong phần Thượng phẩm cũng tương tự.
Còn như Ba Phước là căn bản cho tất cả hành giả muốn vãng sanh, nhưng cũng không bắt buộc phải có đủ ba phước mới được vãng sanh, còn không tu đủ ba phước thì không được vãng sanh. Nếu hiểu như vậy, té ra đức A Di Đà cũng đã quá câu nệ vào hình tướng tu hành, tâm địa hẹp hòi thì đâu còn gọi là BẬC PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH nữa. Tu Tịnh Độ Cực Lạc điều quan trọng là long tin sâu thiết, còn những công hạnh khác, tùy sức, tùy hoàn cảnh mà làm. Đừng chấp cứng vào những sự tu hành hình thức, chẳng hạn như mỗi ngày phải niệm bao nhiêu câu, phải nhất tâm, phải hoàn toàn thanh tịnh, v.v… Nếu như chỉ chấp vào những hình tướng như vậy, thì quả thật không hiểu và xem thường BỔN NGUYỆN của đức A Di Đà!
|