TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh
 

Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh

(Ưu Bà Tắc Giới Kinh)

優婆塞戒經

Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm dịch Phạn Hán

Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt

Phẩm Hai Mươi Tám

Bát Nhã Ba La Mật

 

Thiện Sinh bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Bồ tát tu Bát nhã Ba la mật thanh tịnh như thế nào?”

Thiện nam tử! Nếu có Bồ tát trì giới, tinh tiến, đa văn, chánh niệm, tu hạnh nhẫn nhục, thương xót chúng sinh, tâm thường hổ thẹn, xa lìa sự đố kỵ, chân thực biết rõ các phương tiện lành, vì chúng sinh chịu khổ mà không hối tiếc, thoát lui, ưa làm việc bố thí, có thể điều phục chúng sinh, khéo biết chỗ phạm tội là nặng hay nhẹ, siêng năng khuyên nhắc chúng sinh làm việc phước thiện, biết chữ biết nghĩa, tâm không kiêu mạn, gần gũi bạn lành, có thể làm lợi ích cho mình và người; cung kính Tam Bảo, sư trưởng, hòa thượng, các bậc trưởng lão đức hạnh, đối với thân tu tập Bồ đề, không khởi tâm khinh rẻ, có thể quán sát công đức thâm diệu của Bồ đề; biết rõ tướng thiện ác, biết tất cả thanh luận[34] của thế gian và xuất thế gian, biết rõ nhân quả, biết phương tiện đầu tiên và căn bản, nên biết người ấy có thể được trí tuệ.

Trí tuệ có ba loại: (1) từ văn phát sinh, (2) từ tư phát sinh, (3) từ tu phát sinh. Từ văn tự mà hiểu nghĩa, gọi là từ văn phát sinh; từ sự suy ngẫm mà hiểu nghĩa, gọi là từ tư phát sinh; từ sự tu tập mà hiểu nghĩa, gọi là từ tu phát sinh.

Có thể đọc tụng mười hai phần giáo của Như Lai, phá trừ lưới nghi, đọc tụng tất cả thế luận, thế sự, khéo léo phân biệt nẽo tà nẽo chánh, đây gọi là trí tuệ.

Có thể phân biệt mười hai phần giáo, nhân quả, chữ nghĩa của ấm, nhập, giới, v.v..., tướng của tỳ bà xá na, xa ma tha, thiện, ác, vô ký và tứ điên đảo, kiến đạo, tu đạo, có thể khéo léo phân biệt những sự việc như vậy, gọi là trí tuệ.

Thiện nam tử! Người trí muốn chứng đắc thập lực, tứ vô sở úy, đại bi, tam niệm xứ, phải thường gần gũi Đức Phật và đệ tử của Ngài. Trong đời không có Phật pháp, thường theo ngoại đạo xuất gia tu học, tuy theo tà đạo, thường cầu Chánh pháp; thường tu tập từ, bi, hỷ, xả và pháp ngũ thông. Sau khi chứng được ngũ thông, quán sát bất tịnh và sự vô thường; có thể nói rõ tội lỗi của pháp hữu vi. Vì chánh ngữ, dạy chư chúng sinh học tập thanh luận. Có thể làm cho chúng sinh xa lìa bệnh khổ của thân tâm, ưa đem việc đời dạy dỗ người khác; thành tựu sự nghiệp không ai hơn được, chẳng hạn, chú thuật, các loại thuốc thang, khéo làm ra tiền của, biết cách giữ gìn, tiêu dùng đúng chỗ, như pháp bố thí. Tuy hiểu biết tất cả, không sinh lòng kiêu mạn, được công đức lớn, vẫn không tự mãn; có thể dạy dỗ chúng sinh chánh tín, bố thí, trì giới, đa văn, trí tuệ. Biết rõ phương tiện là thiện, ác hoặc vô ký, khéo biết nhân duyên học hành thứ lớp; biết rõ đạo Bồ đề và sự trang nghiêm Bồ đề; biết rõ căn cơ thượng, trung, hạ của chúng sinh. Biết thanh luận thế gian, tâm không đắm nhiễm; biết rõ chúng sinh, tùy căn cơ mà điều phục; biết rõ thế gian hữu tình và vô tình, biết từ đâu đầy đủ sáu Ba la mật.

Thiện nam tử! Có trí tuệ không phải Ba la mật, có Ba la mật không phải trí tuệ, có trí tuệ vừa là Ba la mật, có vừa không phải trí tuệ vừa không phải Ba la mật.

Trí tuệ không phải Ba la mật, chẳng hạn tất cả trí tuệ của thế gian, trí tuệ của Thanh văn, Duyên giác. Ba la mật không phải trí tuệ, không có nghĩa này. Trí tuệ vừa là Ba la mật, tức là tất cả sáu Ba la mật. Vừa không phải trí tuệ vừa không phải Ba la mật, chẳng hạn như sự bố thí, trì giới, tinh tiến của hàng Thanh văn, Duyên giác.

Thiện nam tử! Nếu có người siêng năng tu tập sáu Ba la mật, thì đó là người cúng dường sáu phương, có thể tăng trưởng tài sản và thọ mạng.

Thiện nam tử! Bồ tát có hai hạng: một là tại gia, hai là xuất gia. Bồ tát xuất gia tu tập trí tuệ thanh tịnh, điều này không khó. Bồ tát tại gia tu tập trí tuệ thanh tịnh, điều này mới khó. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc.

Lúc nói pháp ấy, một ngàn vị ưu bà tắc, trưởng giả Thiện Sinh, v.v..., phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Sau khi phát tâm, từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ Đức Phật, rồi trở về bổn xứ.


 

Chú Thích 



[1] Sự chướng ngại của trí tuệ,tức là sở tri chướng; thân chướng của chúng sinh, tức là phiền não chướng.

[2] Tám thứ âm thanh vi diệu: (1) ngọt ngào, (2) mềm mỏng, (3) hòa nhã, (4) thông tuệ, (5) không dối, (6) sâu sắc, (7) không lầm lẫn, (8) không cùng tận.

[3] Năm chi vị lai của mười hai nhân duyên, tức là ái, thủ, hữu, sinh và lão tử.

[4] Tám chi hiện tại của mười hai nhân duyên, tức là thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ và hữu.

[5] Ba niệm, còn gọi là ba niệm trụ: (1) Chúng sinh tin Phật, Phật cũng không vui, mà thường an trụ trong chánh niệm, chánh tri; (2) chúng sin không tin Phật, Phật cũng không buồn, mà thường an trụ trong chánh niệm, chánh tri; (3) Đồng thời có người tin, người không tin, cũng giống như trên.

[6] Trí nhân, tức là Bồ đề tâm, v.v.., trí quả, tức là Phật quả.

[7] Nhân trí là trí biết rõ tâm hành của chúng sinh, thời trí là trí biết rõ thời gian, tướng trí là trí biết rõ tất cả tướng nhân, tướng quả, tướng sai biệt, v.v...

[8] Tám pháp thế gian, còn gọi là bát phong, tức là lợi, suy, hủy, dự, xưng, ky, khổ, lạc.

[9] Quán nhân quả, tức là từ nhân quán sát quả; quán quả nhân, tức là từ quả quán sát nhân, chẳng hạn như quán khổ tập, quán diệt đạo là từ quả quán sát nhân.

[10] Định hữu: Hữu phân làm ba hữu (tam giới), chín hữu, hai mươi lăm hữu và sáu mươi hai hữu. Định hữu, tức là ở cõi trời, người.

[11] Tận trí là trí tuệ, khi chứng A la hán, biết sự sinh tử của mình đã chấm dứt. Vô sinh trí là trí tuệ biết mình không còn thọ thân đời sau. Tiểu thừa cần phải chứng quả A la hán, còn Đại thừa thì phải đến quả Phật.

[12] Sáu niệm (lục niệm), tức là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí và niệm thiên.

[13] Bảy loại kiêu mạn: (1) mạn, (2) quá mạn, (3) mạn quá mạn, (4) ngã mạn, (5) tăng thượng mạn, (6) ti liệt mạn, và (7) tà mạn.

[14] Đoạn trừ văn căn: từ trình độ “văn sở thành tuệ”, tiến lên trình độ “tư sở thành tuệ”, mà chứng đắc căn bổn trí, tức là đoạn trừ “những lời đã được nghe” nghĩa là không còn chấp trước và ngữ ngôn văn tự.

[15] Tám điều tà ngụy: là tám điều tương phản với bát chánh, tức là tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, tà tinh tiến, tà định, tà mệnh, tà niệm và tà tư duy.

[16] Năm bộ kinh, tức là năm bộ kinh A Hàm.

[17] Ba pháp, tức là tham sân si; ba thời, tức là quá khứ, hiện tại, vị lai; ba loại chúng sinh, tức là thiện, ác, không thiện không ác.

[18] Hai thời, tức là lúc Đức Phật ra đời, và lúc Duyên giác ra đời.

[19] Bốn trí vô ngại, tức là pháp vô ngại, từ vô ngại, nghĩa vô ngại và nhạo thuyết vô ngại.

[20] Năm trí tam muội, tức là do tu tập ngũ đình tâm quán trí mà đắc tam muội. Ba loại pháp môn, tức là chỉ, quán và thiền na. Bảy trí, tức là thất giác phần.

[21] Nghĩa là đem pháp hữu lậu (tài sản thế gian) đổi lấy pháp vô lậu (pháp thân).

[22] Tùy hỷ, phụ giúp và vui mừng.

[23] Bốn lòng tin không hoại: nghĩa là lòng tin đối với Phật, pháp, tăng và giới không còn bị dao động, phá hoại.

[24] Tháng trắng, tức là từ ngày mồng một đến ngày mười lăm âm lịch, tháng đen tức là nửa tháng còn lại.

   Trai, nghĩa là không ăn quá ngọ, chứ không phải là ăn chay – không ăn mặn - theo quan niệm thông thường!

[25] (1) Vô tác quả: đây là lúc thọ giới phát sinh vô tác giới thể; (2) báo quả: thọ trì ngũ giới đều sẽ có được quả báo, (3) dư quả: thọ trì ngũ giới, ngoại trừ quả chánh báo, còn được thêm quả y báo; (4) tác quả: phát tâm thọ trì ngũ giới, tất cả mọi sự việc đều do quả báo chiêu cảm mà được sở cầu như ý; (5) giải thoát quả: mục đích chánh của sự tu tập ngũ giới là sẽ thành tựu được quả giải thoát.

[26] Ba sự không bền chắc, tức là thân, tài và thọ mệnh.

[27] Tác sắc, vô tác sắc (còn gọi là biểu sắc, vô biểu sắc; biểu nghiệp, vô biểu nghiệp; tác nghiệp, vô tác nghiệp): nghiệp biểu lộ ra bên ngoài làm cho người khác biết, gọi là biểu nghiệp, còn nghiệp không thể biểu lộ cho người khác biết gọi là vô biểu nghiệp. Chẳng hạn hành động, lời nói biểu lộ hành vi của mình, gọi là biểu nghiệp, còn như, tuy người khác không thấy, nhưng do biểu nghiệp của thân miệng dẫn khởi, mà có đầy đủ công năng ngăn trở việc thiện hoặc việc ác, thì gọi là vô biểu nghiệp. 

[28] Bốn pháp: Người ở châu Uất Đan Việt nhờ tu nhiều phước đức đời trước, tuy hiện đời không biết tu thập thiện, nhưng tự nhiên có được bốn pháp không sát hại, không trộm cắp, không tà dâm và không nói dối.

[29] Năm pháp: Người ở địa ngục vì quá khổ, không có thì giờ để tạo ác, do đó cứ lý mà xét thì không có năm pháp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và tham lam.

[30] Tác, vô tác, tức là biểu nghiệp, vô biểu nghiệp đã nói ở trên.

[31] Thời gian đầy đủ (chẳng hạn phải đủ hai mươi tuổi), điều kiện đầy đủ (chẳng hạn như phải có đủ ba y, bình bát, ...).

[32] Ngũ căn, ngũ trần.

[33] Tức là ngũ đình tâm quán.

[34] Thanh luận, còn gọi là thanh minh, tức là ngữ ngôn, văn tự.

Trở Về Mục Lục

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006
Last Updated 11/05/2010