KHUYÊN HÀNH GIẢ TỊNH ĐỘ
KIÊM TRÌ TỤNG KINH ĐỊA TẠNG
Tâm Nhiên biên soạn
Thích Pháp Chánh dịch
10/ Sự Linh Dị Của Bồ Tát Địa Tạng
Khưu Hoa Sanh thuật
Thời đại đã chuyển đổi từ giai đoạn chuyển bằng xe ngựa đến giai đoạn phi thuyền không gian, mọi người đều sùng thượng khoa học, nếu như có ai nói đến tín ngưỡng, hoặc sự cảm ứng, v.v… thì nhất định sẽ bị thiên hạ cho là lạc hậu, mê tín, v.v… Thế nhưng, khoa học có thực sự giải quyết được vấn đề cho loài người hay không? Loài người chỉ cần y vào khoa học là có thể sống được sao? Con người không phải là máy móc, không thể chỉ ứng dụng nguyên lý khoa học, bắt họ phải tuân theo những quy tắc cố định, để sinh tồn trên cuộc đời. Vả lại, cuộc sống của con người rất là vi diệu, không thể trắc lượng được. Nếu chỉ dựa vào những định lý khoa học khô cứng khó mà đạt đến giải đáp cho nhân loại. Thành thử, bất luận sự diễn hóa của thời đại như thế nào, tín ngưỡng tôn giáo vẫn còn chiếm một địa vị rất quan trọng trong cuộc sống nhân loại, hơn nữa, những sự tích linh cảm của chư vị Bồ tát là những sự thực mà chúng ta không thể phủ nhận được.
Hiện nay, tôi muốn thuật lại một câu chuyện mới xảy ra mấy năm gần đây, và đây là sự thực mà chính tôi là người đã trải qua. Chúng ta có thể từ những sự tích không thể nghĩ bàn này, nhìn thấy sơ lược thần lực vĩ đại của chư vị Bồ tát, cùng với lực lượng không thể suy lường của lòng tin tưởng, và nhân đây, phát tín nguyện rộng lớn, cung kính lễ lạy, tăng phước đức, khai trí tuệ, sớm chứng đạo quả Vô thượng Bồ đề.
Nghe nói, trong làng Hòa Bình, huyện Đài Trung, có một xóm nhỏ tên Tự Do, đây là một xóm vùng cao nguyên, dân cư phần lớn là đồng bào thượng. Trong vùng núi cao rừng thẳm này, lại có một miếu Địa Tạng đứng sừng sửng trên một vùng đất cao, tô điểm cho cảnh sắc thêm phần tú lệ, đây quả thật là một sự hy hữu. Lý do của sự hiện hữu của ngôi miếu này là từ một câu chuyện xưa rất thương tâm. Vào một ngày mùa xuân năm 1927, đang lúc trăm hoa đua nở, màu sắc tưng bừng, thì đột nhiên xảy ra một trận ôn dịch có tên là cốt thống nhiệt (dengeufieber), hoành hành tại làng Hòa Bình, hiện nay thuộc về bộ lạc Trúc Lâm ở xóm Tự Do, gần như giết sạch tất cả mọi người trong vùng. Trong nhóm đàn ông chỉ có một người được miễn nạn, hiện nay là ông người thượng, tên Ngô Thiên, bốn mươi bảy tuổi. Lúc đó, chánh quyền Nhật Bổn, vì muốn siêu độ những người đã mất, đặc biệt thiết lập một miếu thờ ngài Địa Tạng, khắc tượng ngài cao gần một thước tây, vào ngày mười hai tháng mười hai năm 1927 cung thỉnh một vị sư người Nhật tại chùa Đài Trung thuộc dòng Tào Động là ngài Đại Dã Phụng Châu đến cử hành một buổi lễ khánh thành rất là long trọng. Từ đó, vùng đất này, nhờ lòng từ bị gia hộ của ngài Địa Tạng, đã từ từ khôi phục nguyên khí, phồn thịnh trở lại.
Thời gian trôi qua rất nhanh, Đài Loan được giao lại cho Trung Quốc, dân tộc thiểu số nhờ sự nâng đỡ của chánh phủ , cùng sự nỗ lực của chính họ, sinh hoạt cũng được an định. Thế nhưng, vài năm trước, đạo Tin Lành đã dùng thế lực vật chất lớn mạnh, đem bột mì, quần áo cũ, đến chiêu dụ đồng bào vùng sơn cước, các cư dân ở đây đã bị mắc vào chiến thuật dụ khị, cho nên đã quy hàng, trở thành con chiên ngoại đạo. Còn ngôi miếu Địa Tạng mà lúc trước họ sùng bái tín ngưỡng bây giờ thì bị hoang phế với thời gian, kèo xiêu mái dột, gần như sắp bị sụp đổ. Lúc đó, có các cư sĩ người miền xuôi cư trú ở vùng đó, là anh em Ngô Sĩ Thành, Ngô Sĩ Quân, v.v… mạnh mẽ phát khởi việc trùng tu ngôi miếu cũ này, quyên góp tiền bạc độ mười ngàn đồng, trong vòng chưa đầy một năm thì hoàn thành công tác. Lễ khánh thành được dự định vào ngày mùng năm tháng tám năm 1962, các vị trong ban tổ chức đặc biệt đến chùa Thọ Tuyền ở xóm Trúc Sâm, làng Đồng La, huyện Miêu Lật để thỉnh những cư sĩ thông thạo về nghi thức đến để làm lễ khánh thành. Người lãnh đạo là cụ Hòng Đỉnh Hoa, đã hơn tám mươi tuổi, lại còn có các cư sĩ như Trần A Hán, Lại Nhân Phú, Khu A Khô, Lại Tú Phước, v.v… tổng cộng khoảng mười mấy người đều đến xóm Tự Do tham dự, và tôi cũng là một người trong nhóm. Ngày hôm đó, sau khi pháp hội hoàn tất, chúng tôi ở lại tá túc một đêm, dự định sáng mai trở về. Nào ngờ đêm đó bão tố dữ dội (Đài phong), mưa trút như xối. Sáng hôm sau thức dậy nhì ra, thì ô hô, khắp nơi đều bị nước lụt, núi lỡ đất trượt, giao thông bị gián đoạn, các nơi trong tỉnh (Đài Loan) đều bị tai họa trầm trọng. Lúc đó chúng tôi cũng định mạo hiểm, lội nước băng đồi, để trở về nhà, thế nhưng, khắp nơi đường xá cầu cống đều bị hư hoại, khó mà di chuyển. Chỉ còn có cách ở lại miếu Địa Tạng tạm trú qua đêm, hy vọng sáng mai thời tiết tốt hơn. Sáng ngày mồng bảy thức dậy, nước lụt vẫn chưa rút, mọi người đều lộ vẻ lo âu nhìn nhau, không ai nói lời nào, cũng không biết phải làm gì nữa? Một lát sau, mọi người đều lên trước tượng ngài Địa Tạng khấn nguyện (ngày hôm đó, theo thế tục, được gọi là lên ngôi ngày thứ ba), khẩn cầu đức Bồ Tát từ bi gia bị, khiến cho chúng con đều được trở về nhà bình an. Sau khi khấn nguyện xong, đoàn người chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình gian khổ. Cách miếu Địa Tạng không xa, có một cây cầu đá, một đầu dã bị nước cuốn trôi một đoạn dài hơn mười mét, trừ phi dùng biện pháp lấy trúc to để làm một cây cầu tạm thời, nếu không đừng nghĩ chuyện vượt qua. Trong nhóm có người biết bơi giỏi, bèn lội xuống để dò thử, thì thấy nước sâu độ khoảng một mét, thế nhưng, bởi vì dòng nước đang cuồn cuộn chảy xiết, thành thử muốn lội khoảng hơn mười mét cũng không phải là chuyện dễ dàng! Thấy thế, chúng tôi bèn thoái lui, trong lòng lo âu buồn bực. Lúc đó, các vị cư sĩ tiếp đãi chúng tôi là ông Ngô Thạnh Kim, v.v… đều đã đi vào rừng chặt mấy cây trúc to để chuẩn bị làm cầu tạm thời để qua sông. Lúc đó, bổng nhiên chúng tôi đều ngồi xuống đất, thầm niệm danh hiệu ngài Địa Tạng. Thật là linh dị, không đến hai mươi phút sau thì mưa tạnh, mực nước hạ xuống một cách nhanh chóng, từ khoảng hơn một mét hạ xuống còn độ 12 phân tây. Mọi người nhìn thấy điều đó, đều có cảm tưởng không còn nguy hiểm nữa, bèn vội vả qua sông, phần tôi cỏng ông cụ họ Hoàng hơn tám mươi tuổi, qua sông sau cùng. Lúc tôi đang qua sông đượ hơn phân nửa, thì lạ lùng thay, mực nước dâng lên trở lại. Đi phía sau tôi, có bảy tám người dân Thiên Cẩu, cùng với một cặp vợ chồng cùng theo chúng tôi qua sông. Sau khi mọi người qua sông bình an, không ai buồn quay đầu nhìn lại xem nước còn tiếp tục dâng lên hay không. Mặt khác, ông cư sĩ họ Ngô cùng mấy người đem trúc đến bờ sông đã không còn thấy chúng tôi nữa. Nước vẫn còn rất lớn, tại sao chúng tôi có thể lội qua được? Sau này mới biết khi chúng tôi xuống núi không lâu, ông Ngô và mấy người đến bờ sông, nước sông đã dâng lên đến mức độ cũ khoảng nửa tiếng đồng hồ trước. Đây là điều kỳ dị, làm cho ai cũng khó tin.
Trong kinh nói, Bồ tát dùng đủ loại thần lực cứu độ chúng sanh khổ nạn, lũ lụt là một trong những đại tai nạn của nhân loại. Nếu có thể chí thành xưng niệm danh hiệu Bồ tát, chắc chắn sẽ được thoát khỏi mọi ách nạn. Kỳ này do chính tự thân kinh nghiệm, chứng tỏ lời Phật dạy không bao giờ hư vọng. Điều này làm tôi tăng trưởng niềm tin, ngoài việc kiền thành lễ lạy, cảm tạ ơn sâu của Tam Bảo, tôi cũng nguyện cho tất cả những người đọc những lời văn thô kệt này, cũng sẽ sanh khởi lòng tin. Mọi người cùng nhau xưng niệm thánh hiệu của đấng nguyện lực rộng lớn, nguyện cầu ắt ứng nghiệm: “Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.