TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

A Di Da

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận
 

 

Thượng sư Tsong Kha Pa tạo luận
Thang Hương Danh dịch Tạng Hán
Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt

 

Bồ Đề Chánh Đạo
Bồ Tát Giới Luận


Phần 13


C3. Luận về sự khác biệt của các giới.

Có bảy phần, nghĩa là từ nan hành giới, nhẫn đến thanh tịnh giới.

D1. Nan hành giới. Có ba phần:

            1/ Nếu chư Bồ tát, hiện có đầy đủ tiền bạc của cải, thế lực tự tại, lại xả bỏ tất cả tiền bạc của cải, thế lực để thọ trì giới luật nghi thanh tịnh, đây gọi là nan hành giới thứ nhất của Bồ tát.

            “Tiền bạc của cải”, có bốn loại: (a) tự thân thọ dụng đầy đủ, (b) đông đảo bạn bè quyến thuộc cùng chung thọ dụng, (c) đông đảo tôi tớ nô bộc cùng chung thọ dụng, (d) thức ăn uống thừa thãi. Ở đây thêm vào (e) sự thọ dụng lâu dài, thì được gọi là năm phước. “Thế lực tự tại”, nghĩa là lời nói ra có uy lực lớn, chẳng hạn như muốn gì được nấy. Có sớ giải lại chia thế lực, tự tại ra làm hai loại khác nhau.

            2/ Lại nữa, chư Bồ tát, tuy gặp nguy cấp, nhẫn đến mất mạng, đối với giới pháp đã thọ, một điều giới còn không khiếm khuyết, huống là phạm tất cả giới. Đây gọi là nan hành giới thứ hai của Bồ tát.

            3/ Lại nữa, chư Bồ tát, sau khi thọ giới, trong tất cả mọi thời: đi, đứng, khởi niệm, thường an trụ trong chánh niệm, chánh tri, năm pháp không phóng dật, nhẫn đến lúc mệnh chung, đối với giáo pháp đã thọ không hề lầm lẫn, lãng quên, giới nhẹ còn không phạm, huống là giới trọng. Đây gọi là nan hành giới thứ ba của Bồ tát.

            Ba loại nan hành giới này, trong các sớ giải khác nói là: “thứ nhất thọ giới khó, thứ hai hộ trì khó, thứ ba rốt ráo thanh tịnh khó”. Ngài Đức Quang thì cho rằng: “Chỉ phân làm hai loại: thọ giới khó và hộ trì khó. Giới đầu là thọ giới khó, hai giới sau là hộ trì khó.” Lối giải thích này rất thỏa đáng, nghĩa là trong hai giới sau, giới nan hộ thứ nhất là đối với các nghịch duyên, nhẫn đến nguy hiểm tính mạng, đều giữ gìn không phạm các điều giới đã thọ, giới nan hộ thứ hai là trong tất cả mọi thời, đối với giới pháp đã thọ, dù là tội nhẹ cũng giữ gìn không phạm. Ba điều giới này, dù trong hiện đời không thể học tập trọn vẹn, cũng nên phát nguyện, y vào giác tuệ lực, trong đời vị lai sẽ tu học được như vậy.

D2. Nhất thiết môn giới. Có bốn loại:

            1/ Chánh thọ giới: nghĩa là chánh gia hành, thọ trì ba loại Bồ tát tịnh giới luật nghi đã thọ trước kia, tức là luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, và nhiêu ích hữu tình giới.

            2/ Bổn tính giới: nghĩa là chư Bồ tát, không cần đợi sự tư duy quán sát chánh nguyện chánh hạnh mà vẫn có thể biết rằng mình có đầy đủ hành tướng của sáu ba la mật, an trụ trong chủng tính, bổn tính nhân hậu hiền thục, hai nghiệp thân khẩu thường liên tục chuyển biến thanh tịnh.

            3/ Xuyến tập giới: nghĩa là chư Bồ tát, trong nhiều đời quá khứ, đã từng tu tập ba loại tịnh giới đã nói ở trên, do sức mạnh của sự tu tập, trong hiện đời, trong lòng nhờm tởm, không làm các điều ác, mà thường ưa thích cung kính tu tập pháp lành.

            4/ Phương tiện tương ưng giới: nghĩa là chư Bồ tát, y vào phương tiện điều phục của tứ nhiếp pháp, thường tương tục tùy thuận theo hai nghiệp thân khẩu lành của tất cả hữu tình.

            Bốn giới này có thể đi vào tất cả giới môn, cho nên gọi là nhất thiết môn giới. Tứ nhiếp pháp, tức là: (a) bố thí: nghĩa là dùng tài vật nhiếp thọ, (b) ái ngữ: nghĩa là sau khi dùng tài vật nhiếp thọ, chỉ dạy những điều phải trái, (c) lợi hành nhiếp: sau khi phân biệt phải trái, khuyên nhắc tu hành, (d) đồng sự nhiếp: sau khi khuyên nhắc tu hành, chính mình cũng phải cùng tu tập với họ.

D3. Thiện sĩ giới. Có năm loại:

(1) Tự mình đầy đủ giới luật, (2) thường khuyến khích người khác thọ giới, (3) đối với người ghét bỏ giới luật, tán thán công đức của giới luật, diệt trừ lòng hiềm hận của họ, (4) thấy bạn đồng pháp thọ trì giới luật, khởi lòng vui mừng tùy hỷ, xa lìa sự đố kỵ, (5) giả sử có vi phạm, sám hối đúng pháp.

Năm điều vừa nói, giúp cho hành giả xả bỏ tâm vô nghĩa vô lợi đối với người khác, mà thành tựu những việc lợi ích cho họ, đầy đủ hành nghiệp của bậc thiện sĩ, nên gọi là thiện sĩ giới. Giới thứ nhất và thứ năm là đưa đến tự lợi, còn ba giới kia là đem đến sự lợi ích cho người khác.

D4. Nhất thiết chủng giới.

Nói sơ lược giới này có sáu loại, bảy loại, tổng cộng thành mười ba loại.

            1/ Sáu loại: (a) quảng bác giới: trụ trì viên mãn, rộng nhiếp tất cả học xứ, chứng quả viên mãn, hồi hướng đại Bồ đề; (b) vô tội giới: xa lìa sự đam mê dục lạc, xa lìa những sự vui ô nhiễm; (c) tùy thuận hoan hỷ xứ giới: xa lìa sự khổ não, mỏi nhọc, xa lìa sự khổ vô nghĩa; (e) kiên cố giới: do vì không màng đến sự lợi dưỡng, cung kính, cho nên tất cả lợi dưỡng cung kính không làm dao động, phá hoại, do sự tu đạo đã được kiên cố, các lập luận khác không thể làm dao động, phá hoại, các sớ giải có nói: “không xả bỏ điều đã học, nghiên cứu tinh thâm sách vở ngoại đạo, cho nên người đến tranh luận không thể dao động, phá hoại”, “không xả bỏ điều đã học”, đầy đủ như trong giới luật giảng giải, không phải là ý nghĩa riêng của điều giới này; (f) thi la trang nghiêm cụ tương ưng giới: như trong Thanh Văn Địa có nói đến mười bảy loại trang nghiêm của sa môn, hành giả phải nên biết những hành tướng đó. Ôn đà nam của Thanh Văn Địa nói:

            (1) Chánh tín, (2) không xiểm khúc
            (3) Ít bệnh, (4) tinh tiến, (5) tuệ,
            (6) Biết thiểu dục, (7) hỷ túc,
            (8) Dễ nuôi, (9) dễ vừa lòng,
            (10) Hạnh đầu đà, (11) đoan nghiêm,
            (12) Biết lượng, (13) thiện sĩ pháp,
            (14) Đầy đủ tướng thông tuệ,
            (15) Nhẫn, (16) nhu hòa, (17) hiền thiện.

            2/ Bảy loại: (a) chỉ tức giới: nghĩa là phải nên chánh thọ, xa lìa những pháp không nên làm, chẳng hạn các việc như sát sinh, v.v...; (b) chuyển tác giới: nhất tâm tu học những pháp phải học, vì muốn thu nhiếp các pháp lành, lợi ích tất cả hữu tình; (c) phòng hộ giới: thường không phóng dật, tùy thuận phòng hộ giữ gìn chuyển tác giới; ba giới này là do thể tính mà phân biệt; (d) đại sĩ tướng dị thục giới: nghĩa là có thể thành tựu các diệu tướng trong các địa; (e) tăng thượng tâm dị thục giới: nghĩa là có thể thành tựu vô lượng thắng tam ma địa của Bồ tát; (f) khả ái thú dị thục giới, nghĩa là có thể thành tựu thân trời, người; (g) lợi hữu tình dị thục giới: nghĩa là có thể thành tựu quả báo lợi ích hữu tình; bốn giới này là do quả vị mà phân biệt. Ngài Đức Quang Luận Sư nói: “Trong bốn giới này, giới đầu là nhiếp thiện pháp giới, giới thứ hai và ba là luật nghi giới, còn giới thứ tư là nhiêu ích hữu tình giới.” Lại nói: “Nói sáu loại là do đức tính mà phân biệt, còn nói bảy loại là do thể tính và quả vị mà phân biệt.”

D5. Toại cầu giới: Nên biết tóm lược giới này có tám loại, nghĩa là chư Bồ tát thẩm xét tự mình không mong tám sự tổn hại như bị giết hại, v.v..., hy vọng xa lìa tám điều tổn hại này, nếu như sự việc trái ngược với lòng mong cầu, tức là cầu không toại, lòng không vui thích, những điều mà mình mong cầu, thì chúng sinh khác cũng mong cầu như thế, Bồ tát sau khi thẩm xét như vậy, liền đối với chúng sinh không bao giờ làm tám điều tổn hại mà chúng sinh không mong cầu, không vui thích.

            Tám sự tổn hại không ai mong cầu, không ai vui thích đó là gì? Nghĩa là các việc tàn ác hiện hành như: (1) giết hại, (2) không cho mà lấy, (3) tà dâm, (4) nói dối, (5) nói lời ly gián, (6) nói lời thô ác, (7) nói lời vô nghĩa, (8) gậy gạch đánh đập, v.v... Tương phản với những sự việc này là (1) trường thọ, (2) của cải dư dật, (3) thê thiếp trinh thục, (4) không hư ngụy dối trá, (5) quyến thuộc hòa thuận, (6) nghe lời hay đẹp, (7) lời có ích, (8) lời khả ái, đây gọi là tám việc vui thích, cầu được như ý. Như vậy, khiển trừ tám loại mong cầu không toại ý, dẫn phát tám loại mong cầu toại ý, đây gọi là toại cầu giới của Bồ tát.

D6. Thử thế tha thế lạc giới:

Nên biết, tóm lược giới này có bốn loại, năm loại, tổng cộng có chín loại.

            1/ Bốn loại: (a) nên ngăn chận hữu tình gây tạo khổ nhân cho chính họ; (b) nên giúp cho hữu tình gây tạo nhân an lạc cho chính họ; (c) nhiếp thọ chúng sinh làm cho họ có thể tu hành chánh pháp; (d) điều phục chúng sinh làm cho họ dứt trừ sự điên đảo. Bồ tát thường dùng hai nghiệp thân, ngữ, thanh tịnh tùy thuận.

            2/ Năm loại: ngoại trừ thi la, các hạnh bố thí, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, bát nhã, đều đi chung với tịnh giới.

            Như vậy, tịnh giới của Bồ tát có thể làm cho mình và người đều được sự an lạc đời này đời sau, cho nên gọi là thử thế tha thế lạc giới.

D7. Thanh tịnh giới:

Nên biết giới này, sơ lược có mười loại, nghĩa là chư Bồ tát:

            1/ Chỉ vì tu tập chứng đắc quả sa môn và ba quả Bồ đề cứu cánh, chứ không phải vì muốn thoát khỏi sự bức bách của nhà cầm quyền, hoặc vì sinh kế mà thọ trì tịnh giới, đây gọi là thiện thọ giới.

            2/ Lại nữa, chư Bồ tát, lúc vi phạm học xứ, (nếu) xa lìa tâm không hổ thẹn (nghĩa là biết khởi tâm hổ thẹn), đây gọi là bất thái trầm giới. Không biết hổ thẹn, gọi là thái trầm, xa lìa sự việc như vậy, khởi tâm “vô cùng hổ thẹn”. Thanh Văn Địa nói: “Vì sao gọi là chìm xuống rất sâu, nghĩa là có một loại chúng sinh, tính không biết hổ thẹn, phóng túng làm ác, không chịu học giới, đây gọi là chìm xuống rất sâu”. Cho nên nếu xa lìa tâm không hổ thẹn, thì sẽ sinh lòng “vô cùng hổ thẹn”.

            3/ Lại nữa, đối với những ác pháp, không biết sinh tâm hổ thẹn, đây gọi là bất thái cử giới, còn nếu đối với ác pháp sinh lòng hổ thẹn, thì gọi là thái cử giới, cho nên cần phải xa lìa ác pháp.

            4/ Lại nữa, chư Bồ tát không nên tham đắm những việc ngủ nghỉ, ưa nằm, ưa dựa, ngày đêm siêng năng không ngừng tu tập pháp thiện, đây gọi là ly giải đãi (xa lìa sự lười biếng) giới.

            5/ Lại nữa, chư Bồ tát tu tập năm pháp không phóng dật như đã nói trên, thì gọi là ly chư phóng dật sở nhiếp thọ giới.

            6/ Lại nữa, chư Bồ tát xa lìa sự tham muốn lợi dưỡng cung kính, không nguyện sinh lên cõi trời, mà nguyện tu tập phạm hạnh, đây gọi là chánh nguyện giới.

            7/ Lại nữa, chư Bồ tát, đối với các uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, các sự việc như đắp y, v.v..., hoặc tu tập các thiện pháp như niệm Phật, tụng kinh, v.v..., không đi ngược pháp thế gian cùng giới luật, diệu thiện viên mãn, các nghiệp thân ngữ hiện hành đúng pháp, đây gọi là quỹ tắc cụ túc sở nhiếp thọ giới.

            8/ Lại nữa, chư Bồ tát xa lìa lỗi lầm của năm pháp tà mệnh, như xảo trá, v.v..., đây gọi là tịnh mệnh cụ túc sở nhiếp thọ giới.

            9/ Lại nữa, chư Bồ tát, phải nên xa lìa sự tham muốn hưởng thọ, sự dùng tất cả mọi thủ đoạn để được cúng dường y phục, ẩm thực, giường ghế, v.v..., cùng tất cả sự hưởng thọ dục lạc một cách quá đáng, lại còn phải nên xa lìa sự tu tập khổ hạnh thái quá, như nằm giường gai, bôi tro bụi lên thân, v.v..., hoặc ba lần vào lửa, ba lần xuống nước, tự mình chuốc lấy sự đâm, đốt, cực kỳ thống khổ, đây gọi là ly nhị biên giới.

            10/ Lại nữa, chư Bồ tát, xa lìa tất cả mọi chấp kiến ngoại đạo, đây gọi là vĩnh xuất ly giới.

            11/ Lại nữa, chư Bồ tát, trong tất cả mọi thời, thường giữ tâm hổ thẹn, đối với những học xứ của Đức Phật chế định mà mình đã thọ, không hề khuyết giảm, không phá hoại các giới căn bổn, đây gọi là ư tiên sở thọ vô tổn thất giới.

            Như vậy đã nói rõ về mười một điều giới, còn nếu nói sơ lược thì có mười điều giới.

            Ngài Tối Thắng Tử nói: “Xa lìa hai loại lỗi lầm như vậy, chân chánh tu học những điều Đức Phật chế định, thì sẽ được thanh tịnh”, nghĩa là xa lìa hai lỗi: lỗi thái trầm, không chịu siêng năng tu học những học xứ đã thọ, và lỗi thái cử, đối với ác giới không biết sinh lòng hổ thẹn. Bởi thế, ở đây, kết hợp hai điều bất thái trầm và bất thái cử làm một.

            Lại nữa, ngài Đức Quang nói: “Trong phần ý nhạo (ưa thích), có hai loại lỗi lầm, một là lúc thọ giới ưa thích thọ ác pháp, hai là lúc giữ giới lại thái trầm, thái cử”, đây lại cũng là kết hợp hai điều giới đó làm một. Trát Mục Tra Sớ nói: “Đối với các điều giới không tổn thất đã thọ ở trên, là tổng kết mười điều giới mà nói”. Những điều vừa thuyết minh trên đều không hợp lý.

            Ngài Vô Trước Bồ tát trong Thanh Văn Địa đã nói rõ mười nhân duyên khuy tổn, kết hợp hai điều phóng dật và giải đãi làm một, ngược lại, hai điều không phóng dật và không giải đãi cũng nên hợp thành một điều. Nên biết, đây là mật ý của Luận Du Già, nghĩa là như Thanh Văn Địa nói: “Mười nhân duyên khuy tổn là gì? (1) lúc ban đầu dùng tâm ác thọ giới luật nghi, (2) cực kỳ hôn trầm, (3) cực kỳ tán loạn, (4) phóng dật giải đãi, (5) phát khởi tà nguyện, (6) khuy tổn quỹ tắc, (7) khuy tổn tịnh mệnh, (8) chấp vào nhị biên, (9) không thể xuất ly, (10) tổn hoại giới luật đã thọ. Nếu có thể xa lìa mười nhân duyên khuy tổn này, đây gọi là thi la viên mãn, thi la thanh tịnh.

C4. Sự lợi ích thù thắng của giới. Có hai phần:
D1. Sự lợi ích thù thắng rốt ráo.

Đại thi la tạng của Bồ tát có thể sinh quả Đại Bồ đề rốt ráo. Do nương vào đây, sau khi viên mãn Bồ tát giới ba la mật đa, sẽ chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Đại thi la tạng là tư lương cho đại phước đức, cũng gọi là tịnh giới viên mãn rộng lớn vô lượng.

D2. Sự lợi ích thù thắng hiện đời.

            Chư Bồ tát nương vào giới này, siêng năng tu tập, dù chưa chứng được quả vị Vô thượng Bồ đề, cũng có thể được năm điều lợi ích: (1) thường được chư Phật hộ niệm, như phần trên đã nói qua; (2) đến lúc lâm chung, lòng rất an lạc, (3) sau khi mất, dù thác sanh vào cõi nào, thường được chư vị Bồ tát, tịnh giới hoặc bằng hoặc cao hơn, đến làm bạn pháp, làm bậc thiện tri thức; (4) trong hiện đời thành tựu vô lượng đại công đức tạng, có thể viên mãn tịnh giới ba la mật đa; (5) trong đời sau, sẽ được thành tựu tự tính tịnh giới, giới luật trở thành bổn tính của mình.

            Trong đây, điều lợi ích thứ ba, như ngài Tối Thắng Tử chú thích: “Do tự suy ngẫm, đời sau có thể gặp được chư Phật Bồ tát, vượt thoát sự sợ hãi sinh tử, được đại hoan hỷ”. Lại như Trát Mục Tra Sớ nói: “Do hai nhân duyên mà được đại hoan hỷ, (1) như phần trên vừa nói, (2) thành tựu vô lượng thiện căn, lìa xa sự sợ hãi ác đạo”.

            Sớ giải của ngài Đức Quang cho rằng năm điều lợi ích thù thắng, theo thứ tự, tức là năm quả, nghĩa là (1) tăng thượng quả, (2) ly hệ quả, (3) dị thục quả, (4) sĩ dụng quả, (5) đẳng lưu quả. Ly hệ quả, nghĩa là do chánh nguyện, điều phục diệt trừ ác hạnh, lìa xa sự trói buộc ưu sầu khổ não. Ý của ngài Tịch Thiên cho rằng: “Điều lợi ích thù thắng thứ nhất là lợi ích thù thắng chung cho hai đời hiện tại, vị lai, nghĩa là hành giả giữ gìn giới luật, sẽ được chư Phật Bồ tát hộ niệm như con, như em, làm cho pháp thiện của họ tăng trưởng không mất. Điều lợi ích thứ hai và thứ tư là lợi ích thù thắng hiện đời, nghĩa là lúc lâm chung, thấy mình sẽ được sinh vào các cõi thắng thiện diệu lạc, lìa xa sự sợ hãi ác đạo, được đại hoan hỷ.” Điều này cũng giống như Nhập Bồ Tát Hạnh nói:

            Chừng nào nguyện độ hết,
            Chư hữu tình vô biên,
            Lập chí không thoái chuyển,
            Thọ trì hành tâm này,
            Từ lúc đó trở đi,
            Dù ngủ nghê, phóng dật,
            Tương tục sinh phước đức,
            Lượng nhiều như hư không. (Phẩm một, kệ 18-19)

            Nghĩa là trong tất cả mọi thời, thường có thể tăng trưởng vô lượng công đức tư lương. Hai điều thứ ba và thứ năm là lợi ích thù thắng đời sau, nghĩa là thọ sinh vào bất cứ nơi nào, đều được thiện tri thức nhiếp thọ, không mất tịnh giới. Vì sao ở nơi thọ sinh không mất tịnh giới? Như Ma Ha Ca Diếp Kinh nói: “Do vì có thể đoạn trừ bốn loại thiện pháp, rốt ráo không thoái thất tâm Bồ đề.” Tam Ma Địa Đại Giáo Vương Kinh nói:

            Người thường hay quán sát,
            Biết rõ sự lợi ích,
            Có thể đem tâm mình,
            An trụ trong giới luật.

            Nếu có thể quán sát suy ngẫm, do đây mà tâm có thể chuyên chú, các người có trí, do vì thấy được sự lợi ích thù thắng, phải nên thọ trì Bồ tát tịnh giới, tinh chuyên tu học.

C5. Nhiếp tập giới tướng.

            Như phần trên đã nói rõ về chín loại giới: nhất thiết tự tính giới, v.v..., nên biết tất cả đều được nhiếp vào ba loại tịnh giới: luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới. Ngài Tối Thắng Tử và bộ Trát Mục Tra Sớ đều nói: “Nên biết chín loại giới này, mỗi loại giới đều được nhiếp vào ba tụ tịnh giới.”

C6. Hành nghiệp của giới.

            Hỏi: Vì sao Bồ tát tịnh giới nhất định phải là ba loại?

            Trả lời: Việc làm của Bồ tát, nói sơ lược có ba loại, nghĩa là: (1) Hiện đời, tâm an trụ trong các pháp an lạc vô nhiễm; (2) tự thân tu học Phật pháp thành thục không biết mệt mỏi; và (3) có thể thành thục tất cả hữu tình. Theo như thứ tự, tức là sự việc của luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, và nhiêu ích hữu tình giới. Bởi vì có thể ngăn dứt việc ác, siêng năng tu tập luật nghi giới, cho nên có thể nhiếp tâm tu tập pháp lành, nếu như không thể nhiếp tâm tu thiện, thì hai giới kia không có chỗ nương tựa. Như phần trước có dẫn lời văn của Nhiếp Trạch Phần nói: “Trước tiên, nên lãnh thọ hộ trì luật nghi giới, giới luật nghi này tức là bảy loại biệt giải thoát giới, và cũng tức là biệt giải thoát căn bổn của Phật giáo, bởi thế, chư Bồ tát phải nên siêng năng tu học luật nghi giới mà mình đã thọ.” Hai vết xe đại pháp cùng một mật ý. Lại nữa, hai giới còn lại, trước tiên nên tu học nhiếp thiện pháp giới, tự mình thành tựu, nếu mình chưa thành tựu, lại muốn thành tựu người khác, đây là điều không thể có được.

            Như vậy, Bồ tát tịnh giới có chín loại, hoặc ba loại, sự lợi ích thù thắng có sáu loại, và công năng của Bồ tát tịnh giới có ba loại: (1) hiện đời tâm an trụ trong các pháp an lạc, (2) tự thân tu học Phật pháp thành thục, (3) thành thục hữu tình.

            Ngoại trừ ba loại tự tính tịnh giới, lợi ích thù thắng của tịnh giới và công năng của tịnh giới ra, không còn pháp nào cao hơn, hoặc còn pháp nào khác hơn nữa, nghĩa là tất cả đều được thu nhiếp vào trong ba loại này.

            Chư Bồ tát quá khứ cầu Đại Bồ đề đã học, chư Bồ tát vị lai cầu Đại Bồ đề sẽ học, và chư Bồ tát hiện tại ở khắp mười phương vô biên vô tế thế giới cầu Đại Bồ đề đang học, nghĩa là tất cả Bồ tát ba đời đều phải học, chứ không phải có Bồ tát cần phải học, có Bồ tát không cần học. Đây gọi là chư Bồ tát như lý tu tập con đường cao nhất của Phật đạo. Hành giả tu học con đường đạo cao nhất này, cần phải siêng năng, không được nghi ngờ, biếng nhát.

            Nên biết, đây là phương tiện tu học giới ba la mật. Lại nữa, chư Bồ tát đối với năm ba la mật kia, cùng tứ nhiếp pháp, v.v..., đều phải nên biết rõ, chí tâm tu học. Dù hiện đời không thể tu học các pháp đó, cũng không gọi là mất mát, thế nhưng, vì muốn hộ trì những học xứ mà mình đã thọ, trong tất cả mọi thời, đối với các học xứ khác, cũng không nên xả bỏ.

A3. Hậu phần. Chỗ y cứ và ý chỉ của Luận chủ, khuyến khích kỳ nguyện.

            Như vậy, các Bồ tát Đại thừa sơ cơ, trước tiên nên học Bồ tát giới phẩm. Nếu như y cứ toàn văn mà giải thích, e rằng sẽ rất phiền toái, cho nên ở đây chỉ thâu nhiếp sơ lược ý nghĩa, cẩn thận y theo hai bộ sớ của Bồ Tát Địa, hai bản chú thích của Giới Phẩm Nhị Thập Tụng, Học Tập Luận, Nhập Hành Luận Sơù, cùng các bộ sớ giải giới luật khác, và cũng y cứ vào khế kinh. Ở đây, những chỗ thắc mắc về phương tiện thọ giới, trì giới và khôi phục thanh tịnh, đều đã được đem ra bàn thảo rộng rãi như trên.

            Những người đang tìm cầu Chánh giác,
            Nên nương Đại thừa, vào Chánh đạo,
            Rộng phát hạnh nguyện Đại thừa tâm,
            Khéo thọ trì những điều thệ nguyện,
            Tu học tất cả Bồ tát hạnh,
            Ngoài ra, không có đường Chánh khác,
            Vì Phật, Bồ tát chưa nói qua,
            Có người nói: Mật giáo, Hiển giáo,
            Khai, giá, trì, phạm đều khác nhau,
            Vì hiểu sai, khởi tâm khinh mạn,
            Nên biết, đây là người hạ liệt,
            Xả bỏ đường diệu thiện Đại thừa,
            Bởi thế, hành giả Kim cang thừa,
            Phải nương vào nghĩa Kinh thanh tịnh,
            Ngài Di Lặc, Vô Trước, Long Thọ,
            Dạy về phát tâm và thọ giới,
            Tu tập Lục độ làm cơ sở,
            Kế đó tiến học Kim cang thừa,
            Đây là đường Đại thừa viên mãn,
            Bỏ đây, không chỗ vui nào khác,
            Phật, Bồ tát hạnh, đường cao nhất,
            Giới Bồ tát hành tướng thanh tịnh,
            Đối với Thánh giáo và Chánh lý,
            Trưng dẫn không sai, không ức đoán,
            Y theo mật ý của Như Lai,
            Làm rõ lời văn để giải thích,
            Nguyện đem tất cả lòng thành kính,
            Thường thường cầu thỉnh Đức Văn Thù,
            Đạo Đại thừa sâu, con trí cạn,
            Thường e sớ giải lạc ý kinh,
            Con nay sám nguyện trước Thánh Trí,
            Ngưỡng thỉnh thương xót, đến chứng minh.
            Ngày nay Phật giáo đang suy vi,
            Đại thừa Chánh Đạo ít người học,
            Vì muốn Thánh giáo trụ lâu dài,
            Nguyện sẽ tinh cần tu pháp thiện.
            Nguyện cho tất cả các chúng sinh,
            Ưa thích đi con đường Chân Thực,
            Vì thấy Chánh Đạo là viên mãn,
            Cho nên tinh tấn mà tu học.
            Nguyện con trong tất cả mọi đời,
            Đều được Đức Văn Thù gia hộ,
            Như lý thông đạt pháp Đại thừa,
            Độ thoát hữu tình, hoằng Thánh giáo  ./.

 

Chú thích:

Bốn loại thiện pháp ở đây, có thể là chỉ cho các loại thiện pháp của cõi người, trời và của Thanh văn, Duyên giác. 

 

Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006