Phần 12
F2. Hộ trì tâm tướng của hành giả.
Phần trên nói về hai loại học xứ Bồ tát, rải rác trong các Kinh điển, Đức Phật đã y vào luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà giảng nói; hiện nay, ngài Bồ tát Vô Trước trong pháp tạng ma đát lý ca của Bồ tát này, tống hợp tất cả lời Phật dạy, chứ không phải tự ngài chế định ra. Các vị Bồ tát, đối với học xứ này, phải nên khởi tâm tôn trọng, đem thái độ cực kỳ cung kính, siêng năng tu học.
Các vị Bồ tát, sau khi từ các bậc thầy thọ giới xong, trong tâm sẽ có đầy đủ ba loại ưa thích. Đối với học xứ, sinh khởi tâm cực kỳ tôn trọng cung kính; đối với những điều Đức Phật chế định, từ lúc bắt đầu học tập phải nên chuyên tâm tinh tấn, không được vi phạm. Ba loại ưa thích của Bồ tát là: (1) tâm lành thanh tịnh ưa thích cầu học, (2) ưa thích đạo Bồ đề, (3) ưa thích làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Ba sự ưa thích này, các bộ sớ giải khác gọi là “học ba tụ giới”, thế nhưng, sự ưa thích thứ nhất là sự cầu học “ tự tính tam tụ giới”, còn hai sự ưa thích sau, vì cầu Đại Bồ đề cùng cầu làm lợi ích chúng sinh, mà siêng năng tu học. Lối giải thích này tương đối hợp lý.
Sau khi từ các bậc thầy thọ giới xong, sinh khởi tâm cực kỳ tôn trọng cung kính, từ lúc bắt đầu, chuyên tinh học tập không được vi phạm. Điều này giống như trong chương mười tám của Bồ Tát Địa nói: “Nếu chư Bồ tát, hiện tiền tự xưng mình là Bồ tát, thế nhưng, đối với sở học của Bồ tát, không chịu chân chính tu tập hành trì, phải biết người đó là Bồ tát tương tự, chứ không phải Bồ tát chân thực. Nếu chư Bồ tát, hiện tiền tự xưng mình là Bồ tát, đối với sở học của Bồ tát, chân chánh tu tập hành trì, phải biết người đó là Bồ tát chân thực”. Bởi thế, Bồ tát không nên nghĩ rằng: “Đối với học xứ Bồ tát, tuy phải nên chân chánh hành trì, thế nhưng nếu không chân chánh hành trì, cũng không phải là hạ liệt.”
Bồ tát phải nên nhớ nghĩ đến lời răn dạy của chư Phật, sau khi chánh thức thọ giới Bồ tát xong, phải nên y vào các hạnh lục độ, tứ nhiếp mà siêng năng tu học, tùy thuận lời dạy lý thú sâu rộng của Phật, đi theo con đường mà các bậc Giác ngộ trước đã đi, không nên đoái tưởng đến những lời dạy mông lung của những người không hiểu Thánh giáo, làm ngược ý nghĩa của Phật.
F3. Phương tiện làm cho người phạm giới khôi phục thanh tịnh.
Các vị Bồ tát, từ lúc bắt đầu thọ giới, phải nên tinh chuyên học tập, không nên vi phạm. Giả sử nhân vì bốn duyên: vô tri, phóng dật, tạp nhiễm, không cung kính mà vi phạm, thì phải nên mau sám hối trừ diệt, làm khôi phục sự thanh tịnh.
Lại như Bồ tát, đối với học xứ có chỗ vi phạm, ngoại trừ tội tha thắng ra, tất cả đều bao gồm trong tội vi phạm, không giống như giới biệt giải thoát có nhiều loại tội tướng khác nhau. Nếu phạm tội vi phạm này, phải nên đối trước một hành giả Tiểu thừa hoặc Đại thừa có thể hiểu ý mình muốn nói, đúng theo giới pháp mà phát lộ sám hối. Nếu như ngay lúc đó không có hành giả Bồ tát, thì phải nên đối với một tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni Tiểu thừa mà sám hối trừ diệt tội chướng, không nên đối với sa di, v.v..., mà sám hối, vì những vị sa di, v.v..., không phải là đối tượng mà người phạm tội có thể sám hối giới biệt giải thoát. Giả như người phạm giới là người xuất gia, hơn nữa, hiện tiền có người xuất gia khác để có thể sám hối, thì không nên đối với Bồ tát tại gia mà làm pháp sám hối trừ tội.
Nếu chư Bồ tát, dùng tâm phiền não bậc thượng phạm tội tha thắng, do đây bị mất tịnh giới luật nghi, thì phải nên như Luận Du Già nói: “Cần phải thọ lại”. Nhiếp Quyết Trạch Phần cũng nói: “Nếu có tâm muốn thọ lại để khôi phục sự thanh tịnh, thì nên thọ lại”. Tây Tạng có pháp sư nói: “Được thọ hai lần, sau đó không được thọ nữa”. Lại có pháp sư nói: “Đầu tiên thọ một lần, sau đó được thọ lại hai lần, sau ba lần thì không cho thọ thêm, do vì người phạm giới không còn tâm hổ thẹn nữa”. Giải thích ý nghĩa của chữ “thọ lại” như vậy, thực là phi lý. “Thọ lại” là đối với “thọ lần đầu” mà nói, nói “thọ lại”, không có nghĩa là sau đó sẽ không cho thọ nữa! Các thánh điển Ấn Độ đều chưa hề nói qua số lần thọ giới là bao nhiêu. Trát Mục Tra Sớ nói: “Giả sử do vì phiền não mà phạm tội cực trọng, sau khi đối với tăng đoàn làm pháp sám hối, do vì lòng ưa thích làm lợi ích hữu tình, phát Bồ đề tâm, và do vì lòng ưa thích thanh tịnh này, phải nên thọ lại. Nói thọ lại, không phải chỉ là hai lần. Đối với lần thọ giới đầu, gọi lần thọ giới sau là “thọ lại”.
Nếu dùng tâm phiền não bậc trung phạm tội tha thắng, trước hết phải nêu ra tên của điều giới mình đã phạm, nói lời như vầy: “Trưởng lão (hoặc Đại đức) nhất tâm niệm, tôi là Bồ tát ......, vi phạm pháp tỳ nại da của Bồ tát, đối với điều giới vừa nêu trên, phạm tội ác tác.” Những phần còn lại, cũng giống như pháp tỳ kheo phát lộ sám hối diệt trừ tội ác tác.
“Điều giới vừa nêu trên”, tức là nói tên của điều giới đã phạm, chẳng hạn như nói “tự khen mình”, hoặc nói “hủy báng người khác”. “Phần còn lại”, tức là chỗ phải nói thêm vào, như Cựu Sớ nói: “Các tội như vậy, tôi nay cung kính đối trước Trưởng lão phát lộ sám hối trừ diệt, không còn che dấu. Tôi nay phát lộ sám hối sẽ được an lạc, nếu không phát lộ sám hối sẽ không được an lạc. Vị trưởng lão hỏi: Ông nay có thấy tội mình không? Nên trả lời: Đã thấy. Lại hỏi: Sau này có thể hộ trì không? Trả lời: Như pháp như luật, cung kính hộ trì. Lần thứ hai, lần thứ ba, cũng nói như thế.” Lại nữa, Tân Sớ nói: “Đối với những tội đã phạm, lúc thấy biết nhớ nghĩ đến, phải nên như pháp như luật, khéo léo phụng trì.” Lại như trong các sớ khác, lúc hỏi “hộ trì hay không?”, chỉ nên trả lời “cung kính hộ trì”.
Lúc đó, uy nghi của người sám hối, như Tân Sớ nói: “Hướng về người chủ trì sám hối, chắp tay lễ bái, kế đến xuống phía dưới, quỳ gối chắp tay.”
Nếu như dùng tâm phiền não bậc hạ phạm tội tha thắng, cùng những tội vi phạm khác, phải nên đối trước một bổ đặc già la mà phát lộ sám hối. Tất cả nghi thức đều giống như trên. Nếu như không có một bổ đặc già la nào để có thể phát lộ sám hối, lúc đó Bồ tát nên dùng tâm thanh tịnh, tự khởi lòng thệ nguyện: “Con sẽ quyết định giữ gìn, tương lai rốt ráo không tái phạm”. Các ngài Tối Thắng Tử, v.v..., đều cho rằng đây là do lực gia bị của chư Phật, làm cho hành giả không còn vi phạm. Thế nhưng, đây không phải là ý nghĩa của Luận Du Già.
Lại nữa, Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng thâu nhiếp những nghĩa này lại như sau:
Thượng triền phạm giới, nên thọ lại,
Trung triền, nên đối ba người sám,
Các tội khác, đối một người sám,
Hoặc dùng tự tâm sám cũng được.
Ý nghĩa của hai câu sau là khi sám hối trừ diệt tội vi phạm, nhiễm ô hay không nhiễm ô, nếu như không có một bổ đặc già la hiện tiền, lúc đó Bồ tát nên dùng tâm thanh tịnh phát lời thệ nguyện, một lòng hổ thẹn, điều phục tịch tĩnh, không còn tái phạm, mà làm pháp sám hối trừ diệt. Đây cũng giống như đối với một bổ đặc già la mà làm pháp sám hối trừ diệt.
Ngài Tịch Thọ Luận Sư nói: “Tự tâm sám hối giống như đối một bổ đặc già la sám hối, đây là chỉ cho một phương tiện khác để sám hối khôi phục thanh tịnh, giống như lời văn của Luận nói: Nếu không có một bổ đặc già la ..., đã chứng tỏ điều này.”
Đây là gộp hai trường hợp phiền não bậc trung và bậc hạ lại mà nói.
Ngài Bồ Đề Hiền nói: “Dùng tâm phiền não bậc trung và hạ phạm tội tha thắng, cùng các tội vi phạm khác, ý nghĩa của sự sám hối khôi phục thanh tịnh, không thể luận chung với nhau. Nếu như dùng tâm phiền não bậc trung, hạ, phạm tội tha thắng, giả như hiện tiền không thể tìm được một, hoặc ba bổ đặc già la, cần phải đến nơi khác tìm cho được, còn như tội vi phạm, giả như hiện tiền không thể tìm được một bổ đặc già la, thì không cần phải đi tìm nơi khác, mà chỉ cần khởi tâm sám hối, tự thệ phòng hộ không tái phạm, lập tức sẽ khôi phục thanh tịnh. Đối tượng sám hối của tội vi phạm chưa có định chế, còn đối tượng sám hối cho hai tội kia thì có định chế. Nếu không phải vậy, sự chế định trong Luận cho rằng phải đối với ba, hoặc một bổ đặc già la để sám hối trừ tội, sẽ không hợp lý. Nếu không đủ số ba bổ đặc già la, sự sám hối sẽ không được thanh tịnh, huống là chỉ dùng tâm thệ nguyện phòng hộ không tái phạm để sám hối mà được khôi phục thanh tịnh! Bởi vì Bồ Tát Địa chưa nói rằng dùng tự tâm sám hối sẽ giống như hai trường hợp kia, cho nên nếu nói như trên là điều không hợp lý. Đúng lý phải nên nói như sau: Hai tội kia thì phát lộ sám hối với một người, còn tội vi phạm nhiễm ô không nhiễm ô, thì dùng tự tâm sám hối.” Điều này muốn nói, trong Bồ Tát Địa, hai tội dùng tâm phiền não bậc trung và hạ, phải đối với ba hoặc một người mà sám hối, còn các tội vi phạm, nếu hiện tiền không có một bổ đặc già la khác, thì có thể tự tâm sám hối.
Đoạn văn vừa nói trên đi ngược với ý nghĩa của Cựu sớ, sự thật không hợp lý. Bồ Tát Địa nói: “Nếu dùng tâm phiền não bậc hạ vi phạm tội tha thắng, cùng phạm các tội vi phạm, nên đối với một bổ đặc già la phát lộ sám hối, giống như phần trước. Nếu như không có một bổ đặc già la để phát lộ sám hối trừ tội, lúc đó Bồ tát dùng tâm thanh tịnh phát lòng tự thệ nguyện: Tôi quyết định giữ gìn, trong tương lai quyết sẽ không tái phạm. Nếu như vậy, sẽ được trừ tội, khôi phục sự thanh tịnh.”
Trong đây nói rõ phương tiện khôi phục thanh tịnh của sự phạm giới với tâm phiền não bậc hạ giống như những tội vi phạm khác. Hạ phẩm phiền não phạm giới nếu được như thế, thì trung phẩm phiền não phạm giới, đúng lý cũng phải giống như vậy. Do lòng ưa thích thanh tịnh, sau khi phạm giới, được khôi phục thanh tịnh, giữ gìn tương lai, không cho tái phạm. Đây là nghĩa chung cho sự “sau khi phạm giới được khôi phục thanh tịnh”.
Lại nữa, Bồ Tát Địa, tuy không có đoạn văn nào nói rằng “nếu tự tâm sám hối cũng sẽ giống như đối trước bổ đặc già la sám hối”, nhưng đã có bao hàm ý nghĩa này, chẳng hạn như Luận nói: “Nếu như hiện tiền không có bổ đặc già la để có thể làm pháp sám hối, thì nên khởi lòng tự thệ nguyện, quyết định giữ gìn, giống như đối trước một bổ đặc già la để sám hối khôi phục thanh tịnh”.
Lại có pháp sư cho rằng: “Nếu vi phạm nhiễm ô, giả như hiện tiền có bổ đặc già la để sám hối trừ diệt, thì phải nên đối trước người ấy làm pháp sám hối, còn nếu vi phạm không nhiễm ô, tuy hiện tiền có bổ đặc già la để sám hối, vẫn có thể tự tâm sám hối khôi phục thanh tịnh”. Lập luận như vậy, hoàn toàn phi lý, bởi vì trong Bồ Tát Địa không có phân ra như vậy. Đây có nghĩa là phạm tội do tâm phiền não bậc trung hoặc bậc hạ, cùng bốn mươi lăm tội vi phạm, nếu như hiện tiền có bổ đặc già la để có thể phát lộ sám hối, nhưng không chịu đối với họ sám hối, mà lại dùng pháp tự tâm sám hối, thì cũng không thể khôi phục sự thanh tịnh. Phải nên theo lời dạy của Luận mà thi hành. Bởi vì các tội vi phạm, nếu như có thể đối với một bổ đặc già la sám hối, thì dễ sinh tâm hổ thẹn, cho nên phải đối với họ mà làm pháp sám hối. Còn nếu không gặp, thì phải nên đối trước chư Phật Bồ tát mà sám hối. Như Giới Phẩm có nói: “Đối với tội đã phạm, phải nên thẩm xét kỹ lưỡng, thấy rõ lỗi lầm. Sau khi đã thẩm xét, thấy rõ lỗi lầm của mình, chỗ nào chưa phạm thì phải ghi nhớ, hộ trì không cho phạm, còn những tội đã phạm, phải nên đối trước chư Phật Bồ tát, hoặc các vị đồng tu mà phát lộ trừ diệt tội chướng.”
Chương mười bảy của Bồ Tát Địa nói: “Lại như chư Bồ tát, đối với tất cả lỗi lầm, tất cả vi phạm quá khứ hiện tại, dùng tâm ưa thích thanh tịnh điều nhu tùy thuận giới luật đã học, quán tưởng đang đối trước mười phương chư Phật Thế Tôn, chí thành phát lồ, sám hối cải đổi, lại cũng khuyên răn chỉ dẫn người khác phát lộ sám hối, như vậy thường thường phát lộ sám hối những điều giới đã phạm, tuy dùng ít sức lực, mà tất cả tội chướng đều được giải thoát.”
Học Tập Luận nói: “Trong mộng thấy mình đối trước Đức Hư Không Tạng Bồ tát phát lộ sám hối, đây là sự kiện thù thắng nhất, nghĩa là tất cả tội chướng nặng nhẹ của Bồ tát đều được tiêu trừ. Điều này giống như Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Xá Lợi Tử! Bồ tát phạm tội nặng có hai loại. Đó là hai loại nào? Thứ nhất, do tâm sân mà phạm, thứ hai, do tâm si mà phạm. Xá Lợi Tử! Nếu có Bồ tát phạm tội nặng, phải nên đối với mười bổ đặc già la, dùng tâm thành thực, ân cần sám hối trừ tội. Lại có tội nặng, cần phải đối trước năm bổ đặc già la, ân cần sám hối trừ tội. Xá Lợi Tử! Nắm tay người nữ, đối xử ác độc, khởi tâm hại người khác, phải nên đối trước một hay hai bổ đặc già la mà phát lộ sám hối trừ diệt. Nếu Bồ tát phạm năm tội vô gián, hoặc tội do người nữ mà phạm, hoặc tội do dùng tay mà phạm, hoặc tội do đồng tử mà phạm, hoặc phạm tội đối với tháp miếu, đối với tăng đoàn, cùng phạm các tội khác, phải nên ở riêng một nơi, đối trước ba mươi lăm vị Phật, ngày đêm ân cần sám hối trừ diệt.”
Thế nhưng, nguyên bổn của Ưu Ba Ly Thỉnh Vấn Kinh dịch như sau: “Nếu phạm tội trọng, phải nên đối trước mười người, dùng tâm chân thực, ân trọng sám hối trừ diệt”. Nếu nói như vầy, rất là thỏa đáng. Nghĩa là như phần trước nói đến hai tội nặng, tội trước là do tâm sân mà phạm, phải nên đối trước mười người sám hối. Kế đến, Kinh nói: “Lại có tội nặng, cần phải đối trước năm người sám hối”, nghĩa là tội thứ hai là do tâm si mà phạm. Hơn nữa, Kinh lại nói: “Phạm tội nặng do nắm tay người nữ, phải nên đối trước năm người, phát lộ sám hối trừ diệt.” Nếu dịch như vậy, thực không thỏa đáng, bởi vì không phù hợp với điều Học Tập Luận nói rằng “phải đối trước một hay hai bổ đặc già la mà phát lộ sám hối trừ diệt”. Hơn nữa, lại còn trái ngược với ý nghĩa của Kinh cho rằng “phạm giới do tâm tham, tội tương đối nhẹ”. Lại nữa, bản cựu dịch của Học Tập Luận nói: “Ba tội nặng như nắm tay người nữ, v.v..., cần phải đối trước một, hay hai bổ đặc già la sám hối trừ tội”. Ở đây nói ba tội này là tội nặng, còn trong bản tân dịch lại nói là tội nhẹ. Bản tân dịch tương đối chính xác hơn. Lại nữa, trong Kinh này không có lời văn nói về tội của “khởi tâm hại người khác”, có lẽ là dịch văn còn thiếu sót, bởi vì trong Học Tập Luận có đoạn văn này. Lại nữa, phạm tội với tâm sân gọi là tội nặng, còn khởi tâm hại người khác thì gọi là tội nhẹ, đây cũng không có sự tương phản, bởi vì “khởi tâm hại người khác”, chỉ là khởi ý, chứ chưa thực sự làm tổn hại. Lại nữa, năm tội vô gián, gọi là tội nặng, phải nên đối trước ba mươi lăm vị Phật, ngày đêm sám hối trừ diệt, đây có nghĩa là tuy đã đối trước người khác ba lần sám hối tội đã phạm, thế nhưng vẫn chưa hoàn toàn trừ diệt được quả báo khổ đời sau.
Nhập Bồ Tát Hạnh nói:
Mỗi ngày, đêm ba thời,
Đọc tụng Kinh Tam Tụ,
Nương Phật, tâm Bồ đề,
Sám hối trừ chướng tội! (Phẩm thứ năm, kệ 98)
Như vậy, phương tiện khôi phục thanh tịnh, nghĩa là đối với các tội không phải là tội căn bổn, hoặc tội do cố ý, mà là các tội hoặc do vô ý, hoặc thiếu chánh tri mà phạm, thì cần phải đọc tụng Tam Tụ Sám Kinh, nương uy lực của chư Phật và tâm Bồ đề thì tất cả tội chướng đều trừ diệt. Ngài Trí Tuệ Sinh nói: “Tam tụ là sám hối, tùy hỷ và hồi hướng.” Nên biết đây gọi là phương tiện sám hối. Lại nữa, ngài Thiện Thiên nói: “Phật và tâm Bồ đề là uy lực để nương tựa, nghĩa là quy y Phật và phát tâm Bồ đề.” Học xứ của Bồ tát tuy vô lượng, thế nhưng phương pháp khôi phục thanh tịnh này, đặc biệt rất trọng yếu, nghĩa là ngoại trừ các tội cố ý phạm ra, tất cả các tội vi phạm khác đều có thể được khôi phục thanh tịnh.
Tuy sám hối các tội đã phạm trong quá khứ, nếu như không giữ gìn tương lai không tái phạm thì cũng khó mà thanh tịnh. Từ Thị Sư Tử Hống Kinh nói: “Này Từ Thị! Sau năm trăm năm, chánh pháp suy vi, có những người tự xưng là Bồ tát. Bọn họ không chịu giữ gìn nghiệp thân khẩu ý, phần nhiều phạm tội nặng, tạo tác nghiệp ác, nghĩ rằng chỉ cần sám hối thì tội được thanh tịnh, mà không chịu giữ gìn không cho tái phạm, hoặc tuy giữ gìn, nhưng lại không chân chánh giữ gìn. Này Từ Thị! Ta vì muốn chúng sinh trừ diệt tận gốc các nghiệp ác đã tạo trong quá khứ, nên đã tuyên thuyết pháp môn Tam Tụ. Người đời vô tri, ham tạo nghiệp ác, sau khi tạo nghiệp, nghĩ rằng chỉ cần sám hối là được thanh tịnh, mà không chịu giữ gìn không cho tái phạm!” Như vậy phương tiện khôi phục thanh tịnh là một điều cực kỳ quan trọng trong giới luật. Điều này được nói rõ ràng trong các bộ Bồ Tát Luận.
F4. Mật ý của sự thuyết minh “tham là tội nhẹ”.
Đức Thế Tôn nói rằng chư Bồ tát phạm tội phần lớn do tâm sân, ít khi do tâm tham mà phạm. Nên biết lời này bao hàm mật ý, nghĩa là chư Bồ tát, do lực tăng thượng thương yêu lo lắng chúng sinh, tất cả mọi việc lợi ích, đều là do Bồ tát tạo tác, nếu như Bồ tát không làm những việc cần làm, sẽ vi phạm giới luật. Nếu như Bồ tát ghét bỏ chúng sinh, không thể tu hạnh lợi mình lợi người, nếu Bồ tát làm những điều không nên làm, không làm những điều nên làm, sẽ vi phạm giới luật. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận nói:
Nếu vì lợi chúng sinh,
Khởi tâm tham không tội,
Sân là nghịch chúng sinh,
Vì thường muốn hại người.
Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Nếu chư Bồ tát, tu hạnh Đại thừa, trong hằng hà sa kiếp, thường do tâm tham mà phạm giới, tội đó còn nhẹ, nếu như khởi một niệm sân mà phạm giới, tội đó rất nặng. Vì sao? Do tâm tham mà phạm giới, vẫn còn có thể nhiếp thọ chúng sinh, còn như do tâm sân mà phạm giới, là đã xả bỏ chúng sinh. Này Ưu Ba Ly! Đối với những phiền não mà có thể dùng làm phương tiện nhiếp thọ chúng sinh, Bồ tát không nên sợ hãi. Còn đối với những phiền não đưa đến sự xả bỏ chúng sinh, thì Bồ tát phải nên xa lìa. Do ý nghĩa này, hành giả Đại thừa, nếu nhân vì tâm tham mà phạm giới, ta nói rằng người đó không gọi là phạm giới!”
Ý nghĩa như vậy, khó mà hiểu thấu. Ngài Tịch Thiên trong Học Tập Luận giải thích mật nghĩa này như sau: “Nghĩa này thế nào? Nghĩa là những phương tiện phạm giới này có thể nhiếp hộ tất cả hữu tình, như phần trên đã nói rõ”, chẳng hạn như phần trên đã nói về việc Quang Minh Phạm Chí, vì lợi ích hữu tình mà được phép làm việc dâm dục. Hiện hành do tâm tham phát động, nhưng vẫn gọi là không phạm. Điều này không có nghĩa là bất cứ lúc nào Bồ tát đều có thể tham dục. Như trong Kinh đã nói rằng do tâm tham phạm giới là để nhiếp thọ chúng sinh.
Dùng thân phận nào khởi tâm tham mà được gọi là không phạm? Học Tập Luận nói: Như Kinh có nói, nếu có lòng thương yêu lo lắng, tuy do tâm tham mà phạm giới, vẫn không gọi là phạm. Như Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh đã nói: “Này Ưu Ba Ly! Nếu Bồ tát không có phương tiện thiện xảo, do tâm tham phạm giới liền sinh sợ hãi, do tâm sân phạm giới thì lại không sợ hãi, còn nếu Bồ tát có phương tiện thiện xảo, do tâm tham phạm giới, không sinh sợ hãi, do tâm sân phạm giới liền sinh lòng rất sợ hãi. Phương tiện thiện xảo là gì? Nghĩa là đầy đủ từ bi và trí tuệ, không xả bỏ chúng sinh.” Đây có nghĩa là Bồ tát phải nên vững chãi tâm đại Bồ đề, lấy đại bi làm gốc, thành tựu thắng trí tuệ lực, thông đạt thực tướng của chư pháp.
Đối với tâm sân, phân biệt là phạm hay không phạm, nghĩa là nếu như tâm tham không bao hàm tâm từ, thì cũng giống như trường hợp do tâm sân mà phạm, còn nếu tâm tham bao hàm tâm từ, thì không giống với trường hợp do tâm sân mà phạm. Các bậc trí tuệ, không nên khởi tâm nghi ngờ điều này. Thế nhưng, điều này không có nghĩa là tất cả trường hợp do tâm tham mà phạm giới đều không phạm. Phải nên như trong Học Tập Luận nói: “Thấy được điều lợi ích lớn cho hữu tình, đối với hữu tình khởi tâm từ bi, tuy có tâm tham, cũng không gọi là phạm.”
Hỏi: Nếu như vì lợi ích chúng sinh, khởi tâm sân não mà phạm giới, có gọi là vi phạm hay không?
Trả lời: Phải phân ra mà trả lời. Nếu như cho phép khởi tâm sân, sẽ trở thành tập khí, ắt sẽ phá hoại tâm bi, đây gọi là phạm. Nếu như phá hoại tâm bi, đây là đoạn đứt gốc rễ (của Bồ đề tâm), như phần sau sẽ nói rõ. Giả sử, có sự làm lợi ích cho tất cả hữu tình chăng nữa, thế nhưng do vì tâm bi của Bồ tát đã bị phá hoại, ắt sẽ không thể vĩnh viễn làm lợi ích cho hữu tình. Do đây mà không cho phép.
Lại nữa, như Bồ tát Công Đức Nữ do lực tăng thượng của tình yêu đối với Bồ tát Nan Đề Ca mà sau khi chết được sinh lên cõi trời. Nếu như Bồ tát khởi tâm sân, ắt sẽ như bài kệ nói:
Nếu như khởi ác niệm,
Phật nói mỗi niệm ác,
Đọa địa ngục một kiếp!
(Nhập Bồ Tát Hạnh, phẩm một, kệ 34)
Bởi vậy, phiền não do tâm tham và phiền não do tâm sân sinh khởi, hai đàng không giống nhau. Như Học Tập Luận đã giải thích tâm tham không phạm, thì mật ý mà phần Bồ Tát Địa muốn nói cũng giống như vậy.
F5. Phân biệt các tội phẩm thượng, trung, hạ.
Như Nhiếp Tỳ Nại Da Sự Ma Đát Lý Ca nói: “Do năm nhân duyên mà biết những lỗi lầm đã phạm là tội hạ phẩm, trung phẩm hoặc thượng phẩm khác nhau. Năm nhân duyên nào? (1) Do tự tính, (2) do hủy tổn người khác, (3) do sự ưa thích, (4) do sự việc, và (5) do sự tích tập.
1/ Do tự tính: nghĩa là tội tha thắng là tội thượng phẩm, tội “chúng dư” là tội trung phẩm, còn tội “sở dư” là tội hạ phẩm. Lại có thể phân thành: tội “tha thắng, chúng dư” là phẩm tội trọng, tội “vẫn trụy biệt hối” là phẩm tội trung, còn tội “ác tác” là phẩm tội nhẹ.
2/ Do hủy tổn người khác: các tội do không biết, hoặc do buông lung mà phạm là tội hạ phẩm, các tội do phiền não mãnh liệt là tội trung phẩm, còn các tội do khinh mạn mà phạm là tội thượng phẩm.
3/ Do sự ưa thích: nghĩa là do tâm phiền não tham sân si bậc hạ mà phạm là tội hạ phẩm, do tâm phiền não bậc trung mà phạm là tội trung phẩm, do tâm phiền não bậc thượng mà phạm là tội thượng phẩm.
4/ Do sự việc: tuy rằng hiện hành của sự ưa thích giống nhau, thế nhưng do sự việc khác nhau, đưa đến sự phạm tội phẩm loại thượng, trung, hạ khác biệt. Giả như dùng tâm phiền não sân, nếu đối với loài bàng sinh, cố ý giết hại, thì phạm tội đọa; nếu đối với loài người, hoặc có hình dáng người (không phải cha mẹ) mà cố ý giết hại, thì phạm tội tha thắng, không phải tội vô gián; nếu như dùng tâm sân như vậy, mà cố ý giết cha mẹ, thì phạm tội tha thắng và tội vô gián.
5/ Do sự tích tập: giả như có người, hoặc phạm một tội mà chưa kịp mau chóng sám hối trừ diệt, hoặc phạm hai, ba, nhẫn đến năm tội. Phải biết đây là do sự tích tập mà thành tội hạ phẩm. Từ đây về sau, hoặc phạm mười tội, hoặc hai mươi, ba mươi, nhẫn đến số lượng phạm tội vẫn còn biết được rõ ràng, do nhân duyên tích tập này, thành tội trung phẩm. Nếu như số lượng phạm tội nhiều vô lượng không thể nhớ biết, do nhân duyên tích tập này, thành tội thượng phẩm.
Trong đây, hai trường hợp: (1) do tự tính, và (2) do sự việc, mà tội trạng không giống nhau, còn ba trường hợp kia, tội trạng giống nhau.
Lại nữa, do bốn nhân duyên mà phạm tội: (1) do vô tri (không biết), (2) do buông lung, (3) do phiền não mãnh liệt, (4) do khinh mạn.
1/ Nếu có chúng sinh, đối với điều tội vi phạm, không chịu lắng nghe, không khéo lãnh hội, không có giác tuệ, vì không biết rõ, đối với điều đã phạm, lại cho là không phạm, đây gọi là do vô tri mà phạm tội.
2/ Nếu có chúng sinh, đối với chỗ phạm tội, tuy có giác tuệ, và cũng biết rõ, thế nhưng lại do sự lơ đãng, thiếu chánh tri, mà vi phạm nhiều tội, đây gọi là do buông lung mà phạm tội.
3/ Nếu có chúng sinh, đối với chỗ phạm tội, tuy có giác tuệ, lại cũng biết rõ, nhưng vì bổn tính tham, sân, si, v.v..., cực kỳ mãnh liệt, tuy biết rõ sự việc là không nên làm, nhưng vì bị phiền não bức bách, không thể tự chủ, mà phạm nhiều tội, đây gọi là do phiền não mãnh liệt mà phạm tội.
4/ Nếu có chúng sinh, đối với chỗ phạm tội, tuy có giác tuệ, lại cũng biết rõ, thế nhưng vì lòng tin hiểu vẫn còn rất cạn cợt, lại không có nhân duyên sâu dày đời trước, cho nên không chịu quan tâm học hỏi Phật pháp, không biết kính sợ Tam Bảo, không biết hổ thẹn, không ưa thích điều đã học, do vì khinh miệt, nên đã phóng túng vi phạm nhiều tội ác, đây gọi là do khinh mạn mà phạm giới.
Nên biết trong đây, nếu do vô tri, buông lung mà phạm, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô, còn nếu do phiền não mãnh liệt và do khinh mạn mà phạm, thì gọi là vi phạm nhiễm ô.
Làm cách nào đối trị? Có bốn phương pháp đối trị: (1) y chỉ vào giác tuệ, (2) chánh niệm chánh tri, (3) siêng năng đối trị phiền não mãnh liệt, (4) có tâm hổ thẹn, cung kính thượng sư, tôn trọng chỗ học của mình.
F6. An trụ trong nhân duyên an lạc.
Chư Bồ tát, y chỉ vào tất cả tỳ nại da của mình, siêng năng học tập những điều cần phải học, thì sẽ thành tựu, an trụ trong ba loại an lạc viên mãn.
1/ Gia hành viên mãn: nghĩa là chư Bồ tát, (a) ban đầu, giữ giới thanh tịnh không khuyết phạm, hiện hành thân ngữ ý thanh tịnh, (b) kế đến, tôn trọng cung kính những điều đang học, không buông lung, không hủy phạm giới pháp, (c) sau đó, giả sử có lỡ vi phạm, lập tức phát lộ sám hối việc ác của mình. Do đây tự thấy mình thanh tịnh không phạm, ngày đêm vui mừng, sống trong an lạc.
2/ Ưa thích viên mãn: nghĩa là chư Bồ tát, vì pháp chứ không phải vì sinh kế mà xuất gia, vì cầu Đại Bồ đề, vì cầu pháp sa môn, vì cầu Niết bàn, vì có tâm mong cầu như vậy, nên đối với pháp lành, phát tâm tinh tiến, không lười biếng, không làm lấy lệ, không pha trộn những pháp tạp nhạp, bất thiện, do đây mà có thể dần dần an trụ trong các sự an lạc không tạp nhiễm.
“Pháp bất thiện”, nghĩa là pháp có thể hợp với pháp hiện tại, mà sinh ra nhiều sự tạp nhiễm, chiêu cảm thân đời sau. “Tạp nhiễm”, tức là pháp có thể não loạn thân tâm. Đời sau có thể chiêu cảm quả báo dị thục ở ác đạo, tương lai sẽ chịu quả báo sinh lão bệnh tử lâu dài. Quả sa môn, tức là ba “học hành vị” trong thập địa. Còn Niết bàn tức là Vô trụ Niết bàn. Ngài Tối Thắng Tử nói: “Sa môn, Niết bàn đều là quả báo do sự gia hành”.
3/ Túc nhân viên mãn: nghĩa là chư Bồ tát, trong những đời trước, thực hành bố thí tu tập pháp lành, cho nên trong đời này được đầy đủ các loại quần áo, thực phẩm, giường ghế, thuốc men, các vật dụng linh tinh, không hề thiếu thốn, lại có thể tiếp tục bố thí rộng lớn, vĩnh viễn không còn nghèo khổ thiếu thốn, luôn sống trong cảnh an lạc.
Như vậy, Bồ tát y vào tỳ nại da, siêng năng học tập, thành tựu ba loại viên mãn, an trụ trong sự vui sướng; nếu làm ngược lại, nên biết sẽ chịu ba loại suy tổn, chìm đắm trong sự nguy nan khổ sở.
Như vậy, dẫn giải sơ lược về tự tính, nói rõ tất cả, sau khi nói tất cả giới Bồ tát, hoặc tại gia, hoặc xuất gia, từ đây về sau, trong tất cả giới luật, phân ra tướng trạng khác biệt của bảy loại giới, nghĩa là nan hành giới, v.v...
Người Việt quen dùng chữ “tổng hợp” (Anh: combine), nghĩa là trộn chung với nhau, mà ít dùng chữ “tống hợp” (Anh: synthesize), nghĩa là rút lấy tinh nghĩa, phối hợp lại một cách có hệ thống, điều lý.
Các thuật ngữ này liên quan đến giới luật xuất gia, không tiện giải thích ở đây. Chúng dư, tức là tội tăng tàng; sở dư, tức là các tội từ xả đọa trở xuống; vẫn trụy biệt hối, tức là hai tội xả đọa và đọa; ác tác, tức là các tội phạm uy nghi.
|