Phần 11
J6. Chướng ngại trí tuệ. Có ba phần:
K1. Đối với liệt cảnh. Có bốn phần:
L1. Không học pháp Tiểu thừa (vi phạm thứ hai mươi sáu).
Kệ nói: “Khinh miệt, hủy báng pháp Thanh văn”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, phát khởi kiến giải, hoặc lập luận như sau: “Bồ tát không nên nghe giáo pháp Thanh văn, không nên thọ trì, không nên tu học. Bồ tát cần gì phải nghe, phải thọ trì, phải siêng năng tu học giáo pháp của Thanh văn?”, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát. Vì sao? Bồ tát đối với sách vở ngoại đạo còn phải học hỏi nghiên cứu, huống chi là những lời Phật dạy!!
Những trường hợp không phạm: vì muốn những người chuyên tâm nhất ý học giáo pháp Tiểu thừa xả bỏ sự ham thích đó nên nói lời như vậy.
Nghĩa là Bồ tát phát khởi kiến giải, hoặc lập luận như sau: “Bồ tát không nên nghe giáo pháp Thanh văn, không nên thọ trì, không nên tu học, Bồ tát cần gì phải nghe, phải thọ trì, phải siêng năng tu học giáo pháp Thanh văn”, nếu nói như vậy, gọi là vi phạm nhiễm ô.
Nên biết, điều giới này khác với điều giới “phỉ báng pháp Thanh văn” trong phần tội căn bản của giới biệt giải thoát. Ở đây chỉ là sự vọng chấp, cho rằng pháp Thanh văn là để cho những hành giả Tiểu thừa tu học, còn hành giả Đại thừa thì không cần phải nghe, phải học, vì vậy, đây không phải là sự hủy báng pháp Thanh văn một cách triệt để.
Tại sao Bồ tát nói như vậy lại gọi là vi phạm? Bởi vì Bồ tát đối với sách vở ngoại đạo còn phải siêng năng nghiên cứu, huống hồ là lời của Phật dạy.
Tại sao Luận Du Già thiết lập điều giới này? Bởi vì thấy những hành giả không có chánh tri kiến, cho rằng hành giả Đại thừa không cần tu học giới biệt giải thoát, gây tạo tội chướng khinh miệt chánh pháp. Vì muốn phòng hộ cho bọn họ khỏi bị đọa vào hố sâu nguy hiểm (địa ngục), cho nên chế định điều giới này. Nên biết đây là sự giáo giới thù thắng nhất.
Nếu như có những hành giả Đại thừa đam mê học tập pháp Thanh văn thừa, vì muốn làm cho bọn họ hồi tâm, quay về Đại thừa, bèn nói những lời như trên, trong trường hợp này không vi phạm.
L2. Chuyên tâm tu học pháp Tiểu thừa (vi phạm thứ hai mươi bảy).
Kệ nói: “Bỏ Đại thừa, học pháp Tiểu thừa”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, đối với giáo pháp Bồ tát chưa kịp nghiên cứu tường tận, nhưng lại bỏ phế, quay sang chuyên tâm nhất ý tu học giáo pháp Tiểu thừa, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Nếu có Bồ tát, đối với pháp tạng Bồ tát, đáng lẽ cần phải siêng năng tu học, lại bỏ phế không chịu học, mà lại quay sang chuyên tâm học tập pháp tạng Thanh văn, đây gọi là vi phạm. Ở đây có ý muốn nói các vị Bồ tát đối với pháp tạng Bồ tát phải nên siêng năng tu học, không được phế bỏ, mới có thể học tập thêm pháp tạng Tiểu thừa.
L3. Chuyên tâm tu học giáo điển ngoại đạo (vi phạm thứ hai mươi tám).
Kệ nói: “Chưa thông Phật pháp, học ngoại đạo”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, tuy có sẵn kinh sách Phật giáo, đối với Phật pháp chưa kịp nghiên cứu tường tận, nhưng lại quay sang siêng năng nghiên cứu sách vở thế gian cùng luận điển ngoại đạo, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: có thể học tập Phật pháp nhanh chóng; hoặc đã học Phật pháp dài lâu, hiện vẫn chưa quên; hoặc đối với Phật pháp, có thể suy ngẫm và thông đạt nghĩa lý; hoặc đối với Phật pháp đã quán sát thực nghĩa, thành tựu nhẫn lực, không còn bị lập luận của ngoại đạo lay chuyển; hoặc trong mỗi ngày, dành hai phần thời gian tu học Phật pháp, một phần thời gian học tập sách vở ngoại đạo. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nếu như Bồ tát, hiện có sẵn kinh sách Phật giáo, đối với Phật pháp, chưa kịp nghiên cứu tường tận, lại quay sang nghiên cứu sách vở thế gian, cùng với luận điển ngoại đạo, đây là vi phạm nhiễm ô.
“Luận điển ngoại đạo”, Trát Mục Tra Sớ cho rằng đó là những sách vở về luận lý (nhân minh), ngôn ngữ (thanh minh) của ngoại đạo.
Phần trước, đối với Tiểu thừa, cho nên nói Bồ tát tạng, hiện nay đối với ngoại đạo, cho nên nói Phật pháp.
Những trường không phạm: (1) cực kỳ thông minh, (2) có thể thọ trì nhanh chóng, (3) học nhớ lâu không quên, (4) có thể suy ngẫm, thông đại nghĩa lý, (5) đối với Phật pháp, quán sát đúng lý, được trí bất động, (6) hoặc trong mỗi ngày, dùng hai phần thời gian học tập Phật pháp, một phần thời gian học tập ngoại đạo. Trong những trường hợp này không vi phạm.
Ngài Tối Thắng Tử nói: “Cực kỳ thông minh, nghĩa là trong khoảng thời gian ngắn có thể ghi nhớ; có thể suy ngẫm nghĩa lý, nghĩa là tâm rất bén nhọn; có thể thông đạt nghĩa lyù, nghĩa là trí tuệ sáng suốt; quán sát đúng lý, nghĩa là có thể sinh khởi đại trí tuệ; có thể thọ trì nhanh chóng, nghĩa là học tập nhanh chóng.
L4. Đam mê tu học pháp ngoại đạo (vi phạm thứ hai mươi chín).
Kệ nói: “Đam mê siêng học pháp ngoại đạo”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, không chịu giữ gìn giới pháp Bồ tát, đối với sách vở thế gian, cùng tà luận ngoại đạo, nghiên cứu tinh tường, trong lòng cảm thấy thích thú, tham đắm, không coi đó như cặn bã, hoặc chất độc, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Các vị Bồ tát không nên vượt quá quy tắc của Bồ tát vừa đề cập ở trên, là hai phần thời gian học tập Phật pháp, một phần thời gian học tập luận điển ngoại đạo. Đối với sách vở thế gian và luận điển ngoại đạo, tuy tìm tòi nghiên cứu, vẫn xem như thuốc độc, nếu không như thế, thì lúc ban đầu sẽ ưa thích, kế đó sẽ đam mê, sau đó sẽ chấp trước. Đây là vi phạm nhiễm ô.
Tân Sớ nói: “Bốn vi phạm vừa nêu trên, vi phạm đầu, có thể hủy hoại tâm xa lìa các tầm tư ác trong giới nhiếp thiện pháp; vi phạm hai và ba, có thể hủy hoại sự tìm cầu văn tuệ trong giới nhiếp thiện pháp.” Còn vi phạm thứ tư có thể hủy hoại những gì, thì sớ này chưa đề cập đến.
K2. Đối với thắng cảnh. Có ba phần:
L1. Ghét bỏ hủy báng cảnh giới trí tuệ (vi phạm thứ ba mươi).
Kệ nói: “Ghét bỏ hủy báng Bồ tát tạng”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, đối với nghĩa lý chân thực, sâu xa, cực kỳ sâu xa, lại nghe chư Phật Bồ tát có thần lực không thể nghĩ bàn, đã không sinh khởi lòng tin, ngược lại còn sinh tâm hủy báng: “Những điều này không đưa đến sự lợi ích, không đưa đến Chánh pháp, không phải do Đức Như Lai nói ra, không thể lợi ích an lạc chúng sinh”, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát. Những sự việc hủy báng vừa nói trên là do kiến giải sai lầm của chính mình, hoặc do người khác xúi dục mà phát sinh.
Những trường hợp không phạm: Bồ tát thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, nghe giáo pháp sâu xa, cực kỳ sâu xa, không tin không hiểu, lúc đó Bồ tát nên miễn cưỡng tin nhận, tâm không gian dối, tự nhủ như thế này: “Tôi thật không có thiện căn, đui mù không có mắt trí tuệ, đối với Đức Như Lai là bậc đầy đủ tuệ nhãn, tùy căn cơ chúng sinh mà giảng nói, đối với những lời pháp khó hiểu khó dò của Đức Như Lai mà dám sinh tâm hủy báng!” Bồ tát phải tự ý thức sự “vô tri” của mình như vậy, đề cao Đức Như Lai là bậc đối với Phật pháp, không chỗ nào không biết, không chỗ nào không thấy, bình đẳng tùy thuận chúng sinh mà hiện thân thuyết pháp. Bồ tát nếu có thái độ chân chính như vậy, tuy không hiểu không tin, vẫn không vi phạm học xứ Bồ tát.
Nếu có Bồ tát, đối với Bồ tát tạng, ghét bỏ hủy báng, đây là vi phạm nhiễm ô. Vì sao nghe pháp lại sinh phỉ báng? Nghĩa là khi nghe Bồ tát pháp tạng, đối với pháp nghĩa chân thực sâu xa, cực kỳ sâu xa, cùng chư Phật Bồ tát có bất khả tư nghì thần lực, không sinh lòng tin hiểu, ghét bỏ hủy báng.
“Sâu xa”, nghĩa là không phải cảnh giới của phàm phu, “cực kỳ sâu xa”, nghĩa là không phải cảnh giới của Nhị thừa. Hai tông nghĩa của Đại thừa: (1) pháp nghĩa chân thực, (2) chư Phật Bồ tát có bất khả tư nghì thần lực, chỉ cần hủy báng một trong hai thì gọi là vi phạm.
Ghét bỏ hủy báng, có bốn loại: (1) hủy báng rằng không thể dẫn sinh nghĩa lý, nghĩa là những điều mà Bồ tát tạng nói là hạ liệt, không phải là chỗ nương tựa của trí tuệ, (2) hủy báng rằng không thể dẫn sinh pháp, nghĩa là những điều Bồ tát tạng nói là hạ liệt, không phải là chỗ nương tựa của phước đức, (3) hủy báng rằng không phải là do Đức Như Lai nói, nghĩa là người nói pháp tạng Bồ tát là hạ liệt, (4) hủy báng rằng Bồ tát tạng không thể lợi ích an lạc hữu tình.
Bốn loại nhân duyên phỉ báng trên đây, hoặc là do tự mình có kiến giải sai lầm, hoặc là vì a dua theo người khác mà buông lời hủy báng.
Làm thế nào tự thủ hộ tâm mình, khi nghe người khác hủy báng? Giả như Bồ tát đối với giáo pháp sâu xa, cực kỳ sâu xa, tâm không tin hiểu, lúc đó Bồ tát nên miễn cưỡng tin nhận, tâm không gian dối, tự nhủ như thế này: “Tôi nay đui mù, không có tuệ nhãn vô lậu, đối với Đức Như Lai đầy đủ tuệ nhãn, phải tùy theo lời Ngài dạy mà tu hành, không nên sinh tâm hủy báng những lời giáo huấn cùng mật ý của Đức Như Lai.” Bồ tát phải ý thức sự vô tri của mình, đề cao Đức Như Lai là bậc đối với Phật pháp, không chỗ nào không biết, không chỗ nào không thấy. Bồ tát nếu có thái độ chân chánh như vậy, tuy không tin hiểu, cũng không vi phạm.
Trang Nghiêm Kinh Luận nói:
Ý tội là tính ác,
Không rõ sự phi lý,
Đối với pháp, nếu nghi,
Đừng chê, mới không lỗi.
Bảo Man Luận nói:
Lời, ý mật của Phật,
Khó mà hiểu rõ được,
Pháp nhất thừa, tam thừa,
Đừng chê, tự giữ mình,
Không chê, mới vô tội,
Chê ghét là tội ác.
Nghĩa là các hành giả Đại thừa sơ cơ, chưa dễ khế hợp Phật pháp, tuy không tin hiểu, nếu như không chê bai ghét bỏ, cũng không vi phạm.
L2. Có thể phá hoại quả của trí tuệ (vi phạm thứ ba mươi mốt).
Kệ nói: “Lại tự khen mình mà chê người”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, ở trước đám đông, hoặc do tâm tham, hoặc do tâm sân, tự khen ngợi mình, hoặc hủy báng người khác, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: muốn hàng phục ngoại đạo; hoặc muốn trụ trì Chánh pháp của Đức Như Lai; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc muốn làm cho người chưa tin phát khởi lòng tin thanh tịnh, người đã có lòng tin thanh tịnh tăng trưởng lòng tin.
Nếu như Bồ tát, đối với người khác, có tâm ái nhiễm, hoặc có tâm sân hận, tự khen mình, chê người, đây là vi phạm nhiễm ô. Tâm ái nhiễm, như Tân Sớ và Trát Mục Tra Sớ đều nói: “Do vì kiêu căng tự mãn, cũng tức là tâm ngã mạn.” Ngài Tối Thắng Tử nói: “Đó là tâm cống cao,” ý nghĩa cũng giống như đã giải thích. Cho nên ở đây không đồng với tội tha thắng.
Những trường hợp không phạm: Nhân vì tùy nghi: (1) vì muốn trụ trì chánh giáo của Đức Như Lai, mà muốn hàng phục ngoại đạo, (2) muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, (3) vì muốn cho người chưa tin phát khởi lòng tin, đã có lòng tin làm cho tăng trưởng. Đối với những việc như vậy, tuy tự khen mình, nhẫn đến chê người, đều không vi phạm.
L3. Có thể hủy hoại nhân của trí tuệ. Có hai phần.
M1. Không đi nghe Chánh pháp (vi phạm thứ ba mươi hai).
Kệ nói: “Có chỗ giảng pháp, không đến nghe”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, nghe có chỗ giảng nói, thảo luận Chánh pháp, hoặc vì kiêu mạn, hoặc vì giận dỗi, hoặc vì buồn bực, không chịu đi nghe, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đi nghe, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc không biết, hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc biết người giảng pháp bàn chuyện điên đảo; hoặc muốn giữ ý cho họ; hoặc đã hiểu rõ ý nghĩa mà họ muốn nói; hoặc đã nhiều lần nghe qua, thọ trì, thấu suốt; hoặc nghe nhiều học rộng, hiểu rõ Phật pháp; hoặc đang trụ tâm một cảnh, không muốn bị gián đoạn; hoặc đang siêng năng tu tập thiền định; hoặc căn tính ngu độn, đối với Phật pháp không thể thu nhận, không thể hành trì, không thể làm cho tâm an định. Trong những trường hợp này, không đi nghe pháp, không phạm.
Bồ tát nghe có chỗ giảng nói, thảo luận chánh pháp, nhưng vì tâm kiêu mạn, hoặc vì tâm hiềm hận, hoặc vì buồn bực, không chịu đi nghe, đây là vi phạm nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) không biết rằng đó là thuyết pháp, (2) hoặc đang có bệnh, hoặc không có sức lực, (3) biết người giảng pháp nói năng điên đảo, (4) đã hiểu rõ ý nghĩa mà họ muốn nói, đã nghe qua, thọ trì, thấu suốt, (5) học rộng nghe nhiều, hiểu rõ Phật pháp, (6) không muốn gián đoạn sự chuyên tâm tu tập thắng định của Bồ tát, (7) tự biết mình căn tính ngu độn, đối với những điều đã nghe, khó thọ, khó trì, đối với cảnh duyên, khó nhiếp tâm an định. Đối với những trường hợp như vậy, tuy không đi nghe, đều không vi phạm. <b> Nhân vì tùy nghi: nghĩa là muốn giữ ý cho người thuyết pháp, tuy không đi nghe, cũng không vi phạm.
M2. Có thể hủy hoại cảnh giới của sự nghe pháp (vi phạm thứ ba mươi ba).
Kệ nói: “Chê người thuyết pháp không y nghĩa”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, đối với pháp sư, cố ý khinh mạn, hủy báng, không khởi tâm kính trọng, cười nhạo chê bai: “Chỉ biết chấp vào mặt chữ, không hiểu nghĩa lý”, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Nếu Bồ tát, đối với pháp sư, có ý khinh rẻ hủy báng, không đem tâm chí thành, xem vị thượng sư đó như bậc đạo sư, như bậc thiện tri thức, thân không cung kính, buông lời cười chê, ngạo báng, cho rằng chỉ y vào mặt chữ mà không y vào ý nghĩa, đây là vi phạm nhiễm ô. “Y vào mặt chữ, không y vào ý nghĩa”, có nghĩa là người giảng pháp không y vào những lời kinh tuy không văn chương nhưng lại có ý nghĩa, mà lại y vào những lời văn hoa nhưng lại không có ý nghĩa.
Có pháp sư giải thích như sau: “Đây là người nghe phỉ báng rằng pháp sư chỉ nói danh từ mà không giảng ý nghĩa, hoặc giả (muốn nói) pháp sư không hiểu nghĩa.” Nếu nói như vậy, đây không phải là bổn ý của Luận Du Già, lại nữa, Bồ Tát Địa lúc nói về “tứ y” , ý nghĩa cũng giống như vừa trình bày ở đây. Ngài Tối Thắng Tử và quyển Trát Mục Tra Sớ đều cho rằng đây là không cung kính pháp mà vi phạm.
Trên đây nói về ba loại vi phạm, theo như thứ tự, như Tân Sớ nói: “Có thể hủy hoại sự xa lìa tính ganh ghét, sự tích tập tư lương đa văn, và sự cung kính thừa sự những bậc tôn trưởng trong giới nhiếp thiện pháp. Nói y vào mặt chữ, nghĩa là chê bai pháp sư chỉ y vào từng chữ, từng câu.”
I2. Vi phạm nhiêu ích hữu tình giới. Có hai phần:
J1. Tổng tướng. Có hai phần:
K1. Không làm lợi ích (vi phạm thứ ba mươi bốn).
Kệ nói: “Đối người đáng giúp, không đến giúp”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy chúng sinh đang công tác, vì tâm hiềm hận, giận dỗi, không đến giúp đỡ những công việc mà mình có thể kham nhiệm, chẳng hạn: hoặc cùng nhau đi trên một lộ trình; hoặc trù hoạch công tác; hoặc quản lý tài sản; hoặc giải hòa việc đấu tranh kiện tụng; hoặc tham gia những buổi hội vui; hoặc tham gia những công việc phước thiện, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không giúp đỡ, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc biết đối phương có chỗ nhờ cậy; hoặc biết việc làm của họ phi nghĩa; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc trước đó đã hứa giúp người khác; hoặc đã nhờ người khác giúp đỡ họ; hoặc đang siêng năng tu tập pháp lành không muốn tạm gián đoạn; hoặc căn tính ám độn, đối với pháp đã nghe, đang gặp chướng ngại trong việc thọ nhận, hành trì, như phần trên đã nói qua; hoặc muốn giữ ý cho đại chúng; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn. Trong những trường hợp này, không giúp đỡ, không phạm.
Bồ tát, đối với hữu tình, nên tham gia giúp đỡ tám việc: (1) đối với những việc có thể làm được thì nên làm, (2) cùng đi với nhau trên một lộ trình, (3) chỉ dạy ngôn ngữ, (4) trù hoạch công tác, (5) quản lý tài sản, (6) hòa giải những việc đấu tranh kiện tụng, (7) những buổi hội vui, (8) những công việc làm phước. Đối với những sự việc phải nên tham gia giúp đỡ như vậy, lại ôm lòng hiềm hận, giận dỗi, không chịu tham gia giúp đỡ, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu vì lười biếng nhút nhát mà không tham gia giúp đỡ thì vi phạm không nhiễm ô. “Chỉ dạy ngôn ngữ”, như ngài Trác Long nói: “Đối với những người chưa thông thạo phương ngôn, thì chỉ dạy họ phương ngôn.”
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) hoặc đang bị bệnh không có sức lực, (2) hoặc trước đó đã hứa giúp người khác, (3) hoặc đã nhờ người khác giúp đỡ, (4) đang siêng năng tu tập không thể phế bỏ gián đoạn, (5) hoặc đối phương cá tính ngu độn, khó mà chỉ bảo dẫn dắt. Tuy không đến giúp đỡ, cũng không vi phạm. <b> Nhân vì công việc: biết công việc làm không hợp lý, có thể đưa đến việc phi nghĩa, phi pháp. Tuy không đến giúp đỡ, cũng không vi phạm. <c> Nhân vì tùy nghi: (1) muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, (2) muốn giữ ý không làm cho nhiều người khác khởi tâm hiềm hận, (3) vì muốn tuân theo quy chế của tăng đoàn, tuy không đến giúp đỡ, cũng không vi phạm.
K2. Không cứu giúp người sầu khổ. Có hai phần:
L1. Không giúp trừ diệt sự khổ.
M1. Không giúp đỡ người bệnh (vi phạm thứ ba mươi lăm).
Kệ nói: “Thấy người bệnh hoạn, không giúp đỡ”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, gặp người đang bị bệnh nặng, hoặc vì oán hận, hoặc vì hờn dỗi mà không đến chăm sóc, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đến chăm sóc, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đã nhờ người khác chăm sóc; hoặc biết người bệnh đã có người chăm sóc; hoặc biết người bệnh còn sức lực, có thể tự chăm sóc; hoặc biết người bệnh bị bệnh kinh niên, có thể tự chịu đựng; hoặc đang siêng năng tu tập pháp lành thù thắng rộng lớn; hoặc muốn giữ cho công phu tu tập không bị gián đoạn; hoặc căn tính ngu độn, đối với pháp học đang bị chướng ngại trong việc thọ trì, không thể nhiếp tâm tu định; hoặc đã hứa chăm sóc người bệnh khác. Trong những trường hợp này, không đến chăm sóc, không phạm.
Nếu như Bồ tát, gặp người đang bị bệnh nặng, hoặc vì oán hận, hoặc vì giận dỗi, mà không đến chăm sóc, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đến chăm sóc, thì vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) bị bệnh không có sức lực, (2) đã nhờ người khác chăm sóc người bệnh, (3) tự biết trí tuệ ngu độn, đối với pháp đã nghe không thể thọ trì, không thể làm tâm an định, (4) đã hứa chăm sóc cho người khác. Tuy không đến chăm sóc, cũng không vi phạm. <b> Nhân vì hoàn cảnh: (1) biết người bệnh có chỗ nhờ cậy, (2) biết người bệnh bị bệnh kinh niên, có thể tự chịu đựng, (3) biết người bệnh có đủ sức lực, có thể tự chăm sóc. Tuy không đến chăm sóc, cũng không vi phạm. <c> Nhân vì tùy nghi: (1) hoặc đang siêng năng tu tập pháp lành thù thắng rộng lớn, (2) hoặc muốn giữ cho công phu tu tập không bị gián đoạn. Tuy không đến chăm sóc, cũng không vi phạm.
M2. Không giúp diệt trừ sự khổ (vi phạm thứ ba mươi sáu).
Kệ nói: “Không giúp người khác đang bị khổ”
Giới văn (tiếp theo): Trường hợp gặp người nghèo khổ, cũng tương tự như vậy.
Trong trường hợp này, vi phạm hoặc không vi phạm, nhiễm ô hoặc không nhiễm ô, giống như trường hợp “Không giúp đỡ người bệnh” đã nói ở trên. Tương tự, hoàn cảnh cùng phương tiện giúp đỡ sự khổ, tất cả đều giống như trên.
L2. Không giúp diệt trừ nguyên nhân sự khổ (vi phạm thứ ba mươi bảy).
Kệ nói: “Thấy người phóng dật, không can gián”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy có chúng sinh vì tham lợi đời này hoặc đời sau mà làm những việc phi lý, vì tâm hiềm hận, hoặc giận dỗi, không chịu nói cho họ biết lẽ phải, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng nhút nhát mà không nói, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc không biết; hoặc không có sức lực; hoặc đã nhờ người khác nói cho họ biết; hoặc đối phương là người có trí tuệ, có thể tự sửa đổi; hoặc đối phương có bạn lành khuyên răn, nhắc nhở; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc biết nếu nói lẽ phải, đối phương sẽ khởi tâm hiềm hận, chửi rủa; hoặc biết đối phương sẽ hiểu sai lệch ý nghĩa của mình; hoặc biết đối phương đối với mình không có tâm ưa thích kính trọng; hoặc biết đối phương tính tình ương ngạnh, không biết phục thiện. Trong những trường hợp này, không nói, không phạm.
Nếu như Bồ tát thấy có hữu tình, vì tham lợi đời này đời sau, mà làm những việc phi lý, Bồ tát vì tâm hiềm hận, hoặc giận dỗi, không chịu nói lẽ phải cho họ biết, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu như vì lười biếng, nhút nhát mà không nói, thì vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) tự mình không biết phải nói gì, (2) đã nhờ người khác nói cho đối phương biết. Tuy không khuyên nhắc, cũng không vi phạm. <b> Nhân vì hoàn cảnh: (1) biết đối phương có đủ trí tuệ, có thể tự sửa đổi, (2) hoặc đối phương có bạn lành khuyên răn nhắc nhở, (3) hoặc biết nếu nói lẽ phải, đối phương sẽ khởi tâm hiềm hận, hoặc chửi rủa, hoặc hiểu sai lệch ý nghĩa của mình, (4) hoặc biết người đó tính tình ương ngạnh, không biết kính trọng lẽ phải. Tuy không khuyên nhắc, cũng không vi phạm. <c> Nhân vì tùy nghi: muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua. Tuy không khuyên nhắc, cũng không vi phạm.
J2. Biệt tướng. Có hai phần:
K1. Không làm lợi ích. Có sáu phần:
L1. Không biết báo ơn (vi phạm thứ ba mươi tám).
Kệ nói: “Không biết báo đáp người có ơn”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, đối với chúng sinh có ơn với mình, không biết, không hiểu ơn huệ của họ, ôm lòng hiềm hận, không chịu trong hiện đời tìm cách báo ơn đúng pháp, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không báo ơn, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc tuy đã tìm đủ mọi cách, nhưng vẫn không đủ khả năng để báo đáp; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc muốn báo ơn, nhưng đối phương không nhận. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Bồ tát đối với hữu tình có ơn với mình, không biết, không hiểu ơn huệ của họ, ôm lòng hiềm hận, không chịu trong đời này tìm cách báo ơn đúng pháp, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu vì lười biếng nhút nhát mà không báo đáp, thì vi phạm không nhiễm ô. “Không biết ân huệ”, nghĩa là không muốn báo ơn, “không hiểu ân huệ”, nghĩa là không nhớ nghĩ đến ân huệ, “báo ơn đúng pháp”, nghĩa là nếu không thể dùng số lượng nhiều hơn, thì phải dùng số lượng bằng hoặc ít hơn để báo đáp.
Những trường hợp không phạm: <a> nhân vì tự thân: dù đã nỗ lực báo đáp, nhưng không đủ năng lực, như vậy, tuy không báo đáp cũng không vi phạm; <b> nhân vì hoàn cảnh: dù muốn báo đáp, nhưng người ơn không thọ nhận, như vậy, tuy không báo đáp cũng không vi phạm.
L2. Không an ủi người sầu khổ (vi phạm thứ ba mươi chín).
Kệ nói: “Thấy người sầu khổ, không an ủi”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy có chúng sinh sầu não vì đang bị lâm vào cảnh khổ, như mất mát tiền của, xa lìa người thân, hoặc đang bị thất nghiệp, v.v..., vì lòng hiềm hận, không chịu đến tìm cách an ủi, giúp đỡ họ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đến an ủi, giúp đỡ, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm, như trong điều giới “Không giúp đỡ người bệnh” đã nói qua.
Nếu như Bồ tát thấy các hữu tình đang sầu khổ vì bị mất mát tiền của, quyến thuộc, hoặc lâm vào cảnh hoạn nạn, vì lòng hiềm hận không chịu đến an ủi, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đến an ủi, thì vi phạm không nhiễm ô. Những trường hợp không phạm cũng giống như điều giới “Không làm lợi ích” ở trên.
L3. Không cứu giúp người nghèo khổ (vi phạm thứ bốn mươi).
Kệ nói: “Người đến cầu xin, không bố thí”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có sẵn thức ăn, vật dụng, v.v..., thấy có chúng sinh đến cầu xin, vì lòng hiềm hận, giận dỗi mà không chịu bố thí cho họ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không bố thí, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hiện tại không có của cải, vật dụng để bố thí; hoặc đối phương đòi hỏi những vật phi pháp, hoặc những vật không thích nghi; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc kẻ đến xin là kẻ phạm pháp; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn, cho nên không bố thí. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nghĩa là nếu Bồ tát có sẵn thực phẩm, vật dụng, thấy có chúng sinh đến xin thực phẩm, v.v..., vì ôm lòng hiềm hận, giận dỗi, mà không chịu bố thí, đây là vi phạm nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: hiện tại không có vật dụng để bố thí, tuy không bố thí cũng không vi phạm. <b> Nhân vì vật dụng: (1) vật dụng phi pháp, nghĩa là có thể đem đến những phiền toái trong hiện tại và vị lai, (2) vật dụng không thích nghi, nghĩa là vật dụng đó không thích hợp với người xin, tuy không bố thí cũng không vi phạm. <c> Nhân vì tùy nghi: (1) muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, (2) người đến xin là kẻ vi phạm luật pháp quốc gia, vì muốn tuân mệnh nhà cầm quyền, (3) hộ trì quy chế của tăng đoàn, tuy không bố thí cũng không vi phạm.
L4. Không khéo chế ngự đệ tử (vi phạm thứ bốn mươi mốt).
Kệ nói: “Không làm lợi ích cho đệ tử”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, chăm sóc đệ tử, vì lòng hiềm hận, không chịu tùy thời mà dạy dỗ cho họ Chánh pháp, hoặc khuyên răn họ. Tuy biết đệ tử thiếu thốn, nhưng lại không chịu đến các tín đồ để quyên góp thực phẩm, quần áo, thuốc men, cùng các vật dụng cần thiết để cung cấp cho họ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không chịu dạy bảo, khuyên răn, không chịu cung cấp đồ dùng cần thiết cho họ, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đệ tử, như phần trên đã nói qua; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn; hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đã nhờ người khác dạy bảo, chăm sóc; hoặc biết đệ tử là người có phước báo lớn, có thể tự cầu xin thực phẩm, quần áo, v.v...; hoặc đã chỉ bảo tất cả những điều cần phải chỉ bảo; hoặc biết đối phương vốn là ngoại đạo, lẫn lộn vào đám đệ tử để nghe trộm pháp, bổn tính khó dạy khó bảo. Trong những trường hợp này, không dạy bảo, không cung cấp, đều không phạm.
Nếu như Bồ tát nuôi dạy đệ tử, vì tâm hiềm hận, không chịu tùy thời dạy dỗ cho họ chánh pháp, hoặc khuyên răn họ, biết đệ tử đang thiếu thốn, nhưng lại không chịu đến các vị trưởng giả, cư sĩ, bà la môn có tín tâm, đúng như pháp quyên góp quần áo, thực phẩm, thuốc men, cùng các vật dụng cần thiết để cung cấp cho họ, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu vì lười biếng, nhút nhát hoặc phóng dật mà không dạy dỗ, khuyên răn, quyên góp, thì vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) bị bệnh không sức lực, không thể dạy dỗ, v.v..., (2) đã nhờ người khác có sức lực dạy dỗ, ..., tuy không dạy dỗ cũng không vi phạm. <b> Nhân vì tùy nghi: (1) dùng sự không dạy dỗ, v.v..., làm phương tiện để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, (2) hộ trì quy chế của tăng đoàn, ..., tuy không dạy dỗ, v.v..., cũng không vi phạm. <c> Nhân vì hoàn cảnh: (1) biết đệ tử được nhiều người quen biết, có phước báo lớn, có thể tự cầu thực phẩm, v.v..., (2) đã tùy sự hiểu biết của mình, dạy dỗ, khuyên nhắc họ những điều hay lẽ phải, (3) biết có những ngoại đạo đang trà trộn trong đại chúng để nghe trộm pháp, không thể điều phục, tuy không dạy dỗ cũng không vi phạm.
L5. Không tùy thuận người khác (vi phạm thứ bốn mươi hai).
Kệ nói: “Không thể tùy thuận theo người khác”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, vì lòng hiềm hận, không chịu tùy thuận người khác, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không tùy thuận, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc đối phương muốn làm những việc phi pháp; hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn; hoặc việc họ muốn làm tuy hợp nghi, nhưng nhiều người khác lại không chấp nhận; hoặc muốn hàng phục ngoại đạo tà ác; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nếu Bồ tát, đối với hữu tình, không chịu tùy thuận họ, đây là vi phạm. Nhiễm ô hay không, tương tự như đã bàn ở trên.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: bị bệnh, không có sức lực. Tuy không tùy thuận cũng không vi phạm. <b> Nhân vì tùy nghi: (1) đối phương muốn làm những điều không nên, sau này sẽ làm hại đến họ, hoặc hại đến mình, (2) đối phương muốn làm những điều không nên, mà nhiều người khác cũng không muốn không thích, vì không muốn cho đám đông khởi lòng hiềm hận, (3) vì muốn hộ trì quy chế của tăng đoàn, (4) vì muốn hàng phục bọn ngoại đạo ác, (5) vì muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, tuy không tùy thuận cũng không vi phạm.
L6. Không tán thán người có đức (vi phạm thứ bốn mươi ba).
Kệ nói: “Thấy người có đức, không tán dương”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, ôm lòng hiềm hận, thấy người khác thực sự có đức hạnh mà không chịu đề cao, thấy người khác thực sự có tiếng tốt mà không chịu ca tụng, thấy người khác thực sự nói lời hay đẹp mà không chịu khen ngợi, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không đề cao, ca tụng, khen ngợi, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc biết đối phương là người không thích được khen, vì muốn giữ ý cho họ nên không khen; hoặc đang có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn; hoặc biết nếu đề cao, ca tụng, khen ngợi, sẽ làm cho đối phương sinh tâm kiêu mạn, hoặc các tính xấu khác, vì muốn đề phòng những sự việc như vậy nên không đề cao, v.v...; hoặc biết việc làm của đối phương hình như có công đức, nhưng thật sự không phải công đức, hoặc danh tiếng của họ hình như là tốt, nhưng thực sự không phải tốt, hoặc lời nói của họ nghe có vẻ hay đẹp, nhưng thực sự không phải hay đẹp; hoặc vì muốn hàng phục ngoại đạo; hoặc đang đợi cho đối phương hoàn tất công việc của họ, trước khi đề cao, ca tụng, khen ngợi. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nếu Bồ tát, thấy người khác thực sự có đức hạnh, hoặc được tiếng tốt, mà không chịu xưng dương, hoặc thấy họ thực sự nói lời hay đẹp, mà không chịu khen ngợi, đây là do tâm hiềm hận, hoặc lười biếng, nhút nhát, thì sẽ vi phạm nhiễm ô hay không nhiễm ô. Tất cả tội tướng, tương tự như đã nói ở phần trên.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: (1) đang bị bệnh, không có sức lực, không thể khen ngợi, (2) hoặc đợi cho đối phương làm xong, nói xong, rồi mới khen ngợi, tuy không tán dương, cũng không vi phạm. <b> Nhân vì hoàn cảnh: (1) hoặc biết đối phương là người khiêm hạ, không thích được tán dương, vì muốn giữ ý cho họ, tuy không tán dương, cũng không vi phạm. <c> Nhân vì lời nói: (1) hoặc biết đối phương, có vẻ như có đức hạnh, nhưng thực sự không phải đức hạnh, có vẻ như tiếng tốt, nhưng thực sự không phải tiếng tốt, có vẻ như nói lời hay đẹp, nhưng thực sự không hay đẹp, tuy không tán dương, cũng không vi phạm. <d> Nhân vì tùy nghi: (1) dùng sự không tán dương làm phương tiện để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, (2) hộ trì quy chế của tăng đoàn, (3) biết rằng nếu tán thán, khen ngợi, đối phương sẽ sinh tâm tạp nhiễm, kiêu ngạo, v.v..., vì muốn ngừa những lỗi lầm này, (4) vì muốn hàng phục bọn ngoại đạo ác, tuy không tán dương, cũng không vi phạm.
K2. Không điều phục. Có hai phần:
L1. Đối với việc phi pháp, không chịu dùng uy đức chiết phục (vi phạm thứ bốn mươi bốn).
Kệ nói: “Không tùy nhân duyên mà điều phục”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy có chúng sinh cần phải quở trách, cần phải trị phạt, cần phải trục xuất, nhưng vì tâm thiên vị, không chịu quở trách, hoặc tuy quở trách, nhưng không trị phạt, hoặc tuy trị phạt, nhưng không trục xuất, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không chịu quở trách, trị phạt, trục xuất, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: hoặc biết đối phương không thể sửa đổi, nói không chịu nghe, ưa nói lời thô tục, tính hay hiềm thù; hoặc đang chờ cơ hội thích hợp; hoặc biết những sự việc này sẽ đưa đến sự đấu tranh, kiện tụng; hoặc biết do đây sẽ làm náo loạn, hoặc đưa đến sự đổ vỡ của tăng đoàn; hoặc biết đối phương tính tình không gian dối, tự họ sửa đổi nhanh chóng, cho nên không quở trách, trị phạt. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nếu Bồ tát, thấy có hữu tình, cần phải quở trách, trừng phạt, trục xuất, nhưng vì tâm thiên vị, không chịu quở trách, hoặc tuy quở trách, nhưng không trừng phạt, hoặc tuy trừng phạt, nhưng không trục xuất, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu như vì lười biếng, nhút nhát, hoặc phóng dật mà không quở trách, v.v..., thì vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: <a> Nhân vì tự thân: đang đợi cơ hội thích hợp, tuy không quở trách, nhẫn đến trục xuất, cũng không vi phạm. <b> Nhân vì hoàn cảnh: (1) biết đối phương không thể sửa đổi, nói không chịu nghe, ưa nói lời thô tục, tính hay hiềm thù, (2) biết đối phương là người biết hổ thẹn, biết tự sửa đổi mau chóng; tuy không quở trách, nhẫn đến trục xuất, cũng không vi phạm. <c> Nhân vì tùy nghi: biết rằng nếu như quở trách, v.v..., sẽ đưa đến sự đấu tranh, kiện tụng, hoặc sẽ đưa đến sự đổ vỡ của tăng đoàn, vì muốn ngăn ngừa những sự kiện này, tuy không quở trách, nhẫn đến không trục xuất, cũng không vi phạm. “Đấu tranh, kiện tụng”, như ngài Trác Long nói: “Việc đầu là nói tổng quát, hai việc sau là nói riêng biệt. Mạ lỵ nhau, cáo tố nhau, dẫn đến kiện tụng”.
L2. Đối với việc trái ngược Thánh giáo, không chịu điều phục (vi phạm thứ bốn mươi lăm).
Kệ nói: “Không hiện thần thông để nhiếp phục”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thành tựu các loại thần thông biến hiện, đối với các chúng sinh cần phải dùng sự khủng bố để cải đổi họ thì phải nên khủng bố, cần phải dùng phương pháp dẫn dụ để cải đổi họ thì phải nên dẫn dụ, thế nhưng Bồ tát không muốn nhân vì dùng thần lực thí chủ sẽ cúng dường mình nhiều hơn, cho nên không dùng thần lực để hàng phục, dẫn dắt đối phương, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: hoặc biết đối phương là kẻ chấp trước vào tà thuật; hoặc sợ nhân đây ngoại đạo sẽ hủy báng Phật pháp, tăng trưởng tà kiến, cho nên không hiện thần thông để nhiếp phục đối phương. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Lại nữa, trong tất cả các trường hợp đều không phạm, nếu: hoặc thần kinh hoàn toàn thác loạn; hoặc bị sự khổ não bức bách đến cực điểm; hoặc chưa hề thọ qua giới luật của Bồ tát.
Nếu Bồ tát thành tựu đầy đủ các loại thần thông, biến hiện uy lực, đối với các hữu tình cần phải dùng sự khủng bố để họ sửa đổi thì phải nên khủng bố, cần phải dùng phương pháp dẫn dụ để họ sửa đổi thì phải nên dẫn dụ, thấy người trong đạo không nghiêm trì giới luật, khó mà tiêu của bố thí, nếu như không dùng thần thông để khủng bố hoặc dẫn dụ, để cho họ khỏi thọ nhận của tín thí một cách vô ích như vậy, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô. Trong hai bộ sớ giải của Giới Nhị Thập Tụng có chỗ cho rằng đây là vi phạm nhiễm ô, e rằng có sự nhầm lẫn.
Trường hợp không phạm: nếu có ác ngoại đạo chấp trước vào tà thuật, phỉ báng thần thông là ma thuật, thuốc tà, lúc đó không hiện thần thông để khủng bố, dẫn dụ, cũng không vi phạm.
Tân Sớ nói: “Hai điều vi phạm vừa thuật ở trên, đều có thể hủy hoại giới nhiêu ích hữu tình.”
Tiếp theo, kệ nói:
Đầy đủ tâm bi và tâm từ,
Cùng với tâm thiện, đều không phạm.
Điều này có nghĩa là phần trên nói về trường hợp khai, giá của các điều giới, nếu dùng tâm bi thương xót hữu tình, hoặc dùng tâm từ làm lợi ích hữu tình, hoặc dùng phương tiện để điều phục người khác, để họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành, những trường hợp như vậy, đều không vi phạm. Ngài Bồ Đề Hiền nói rằng chữ “cùng” trong bài kệ trên có thể bao hàm các nghĩa “nếu tâm cực kỳ phiền não, hoặc bị sự khổ bức bách, hoặc trong lúc đang ngủ, hoặc cuồng loạn, tuy làm nhưng không vi phạm”. Hai nghĩa này, có thể bao hàm các ý nghĩa “nếu tâm cuồng loạn, nếu bị sự khổ bức bách, đều không vi phạm” trong Nhiếp Trạch Phần. Lại nữa, ngài Tịch Thọ Luận Sư nói: “Bài tụng này, như phần văn phía dưới có nói nếu như vì tâm tham mà phạm giới, thì không gọi là phạm”. Lối giải thích sau là đúng!!
Tứ y: (1) y theo pháp, không y theo người; (2) y theo kinh liễu nghĩa, không y theo kinh không liễu nghĩa; (3) y theo ý nghĩa, không y theo ngôn ngữ; (4) y theo trí tuệ, không y theo tình thức.
|