Phần 10
K2. Chướng ngại việc tự lợi. Có ba phần:
L1. Hủy phạm tịnh mệnh (vi phạm thứ mười một).
Kệ nói: “Ham pháp tà mệnh, không chịu bỏ”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, sinh lòng quỷ quyệt, gian trá, đàm luận những chuyện nửa hư nửa thực, dùng phương tiện này để mưu cầu lợi dưỡng, sống bằng pháp tà mạng, không biết hổ thẹn, không chịu buông xả, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: đang muốn diệt trừ thói quen sống bằng tà mạng, tuy nỗ lực tinh tiến đoạn trừ, nhưng vì phiền não quá mạnh, thói quen sống bằng tà mạng vẫn tiếp tục hiện hành.
Nghĩa là sinh khởi năm pháp tà mệnh, như quỷ trá, v.v..., không biết hổ thẹn, mà còn ngoan cố không chịu xả bỏ, không chịu tìm cách trừ khiển, đây là vi phạm nhiễm ô. Trong đây không có trường hợp vi phạm không nhiễm ô. Nếu như khởi tâm muốn trừ diệt thói quen tà mệnh, nhưng vì phiền não mãnh liệt, che mờ lý trí, thường thường phát khởi thói quen tà mệnh, trường hợp này không phạm. Điều này giống như trường hợp Tâm chạy theo lòng tham không đáy, đã nói ở phần trên.
Tướng trạng của năm pháp tà mệnh, như Bảo Man Luận nói:
Vì muốn được danh lợi cung kính,
Che hình tích, bày trò quỷ quyệt,
Vì muốn được danh lợi cung kính,
Nói lời đường mật, tướng gian trá,
Vì muốn được danh lợi cung kính,
Vờ khen tiền tài của thí chủ,
Vì muốn được danh lợi cung kính,
Hủy báng người khác, khéo cầu cạnh,
Vì muốn được danh lợi cung kính,
Nói được cúng dường, mong người cúng.
Có sớ giải nói: “Nếu khởi tâm muốn phát khởi năm pháp tà mệnh, tuy tự mình không hay biết, cũng gọi là vi phạm”, đây không phải là bổn ý của Luận Du Già.
L2. Hủy phạm quỹ tắc (vi phạm thứ mười hai).
Kệ nói: “Điệu cử, bôn chôn, không tịch tĩnh”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới pháp thanh tịnh của Bồ tát, tính tình háo động, tâm không tịch tĩnh, nói cười lớn tiếng, ba hoa huyên náo, cử chỉ đùa cợt, mong được người khác tán thưởng, phụ họa, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát. Nếu vì lơ đãng mà háo động đùa cợt, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: tuy muốn đoạn trừ thói quen háo động, nhưng vẫn chưa đoạn trừ được, như phần trên đã nói qua; hoặc muốn dùng phương tiện này để giải trừ tâm hiềm hận của người khác; hoặc muốn đối phương khuây khoả sự phiền muộn; hoặc đối phương tính tình háo động, muốn dùng phương tiện nhiếp phục, bảo hộ mà hiện tướng háo động như họ; hoặc đối phương khởi tâm ngờ vực Bồ tát hiềm hận, hoặc âm mưu chống đối họ, Bồ tát bèn hiện tướng đùa cợt, biểu hiện tâm thái vô tư thanh tịnh của mình. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nghĩa là tâm không an tĩnh, đây là nhiếp vào tâm tham. Tâm thường bôn chôn, không thích tịch tĩnh, lớn tiếng nói cười, ồn ào náo động, cử chỉ bộp chộp, mong người khác hưởng ứng, đây là vi phạm nhiễm ô.
Những trường hợp không vi phạm: <a> Nhân vì tự thân: đang khởi tâm muốn đối trị những thói quen xấu đó, tuy vẫn còn cười nói lớn tiếng, v.v..., vẫn không vi phạm, như phần trên đã nói qua. <b> Nhân vì tùy nghi: (1) muốn dứt trừ tâm hiềm hận của đối phương, (2) muốn làm cho đối phương giải trừ ưu sầu, buồn bực, (3) đối với những người ưa thích những việc như trên, dùng phương tiện này để nhiếp phục họ, làm cho quay về nẻo lành, (4) vì muốn giữ ý cho những người thân cùng bạn bè mà hiện tướng tùy thuận họ, (5) nếu đối phương có ý ngờ vực, ôm lòng hiềm hận, ganh ghét, lúc đó, Bồ tát ngoài mặt bèn lộ vẻ hoan hỷ, biểu lộ tâm mình thanh tịnh, không có ý xấu, tuy lớn tiếng nói cười, v.v..., đều không vi phạm.
L3. Đắm mê ba cõi (vi phạm thứ mười ba).
Kệ nói: “Nhất hướng không sinh tâm xả ly”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, sinh khởi kiến chấp, hoặc lập luận như sau: “Bồ tát không nên tham cầu Niết bàn, đối với Niết bàn nên sinh tâm nhàm lìa, đối với phiền não, không nên sợ hãi mà cầu đoạn trừ, không nên nhất quyết sinh tâm nhàm lìa, bởi vì hàng Bồ tát phải lăn lộn trong sinh tử ba a tăng kỳ kiếp để cầu Vô thượng Bồ đề”, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát. Vì sao? Như hàng Thanh văn khởi tâm tham cầu chứng đắc Niết bàn, nhàm lìa phiền não và tùy phiền não, thì hàng Bồ tát khởi tâm tham cầu chứng đắc Niết bàn, nhàm lìa phiền não và tùy phiền não, còn nhiều gấp trăm ngàn vạn ức lần so với hàng Thanh văn. Bởi vì Thanh văn chỉ lo tự độ, tinh tiến tu hành chứng đắc Niết bàn, còn Bồ tát thì vì tất cả chúng sinh, tinh tiến tu hành chứng đắc Niết bàn, vì thế Bồ tát phải nên siêng năng tu tập tâm không ô nhiễm, tuy thành tựu những sự nghiệp hữu lậu, mà việc tu tập tâm không ô nhiễm vẫn vượt hẳn Thanh văn.
Đây là vì thấy các Kinh luận nói rằng pháp của chư Bồ tát là phải nên an trụ trong sinh tử, không ưa thích Niết bàn, cho nên sinh khởi những kiến chấp, những lập luận như vầy: “Bồ tát không nên tham cầu Niết bàn, đối với Niết bàn nên sinh tâm nhàm lìa, đối với phiền não và tùy phiền não, không nên sợ hãi mà cầu đoạn trừ, không nên nhất quyết sinh tâm nhàm lìa sinh tử, bởi vì hàng Bồ tát phải lăn lộn trong sinh tử ba a tăng kỳ kiếp để cầu Vô thượng Bồ đề.” Nếu nói như vậy, gọi là vi phạm nhiễm ô. Vì sao? Như hàng Thanh văn khởi tâm tham cầu chứng đắc Niết bàn, nhàm lìa phiền não và tùy phiền não, thì hàng Bồ tát khởi tâm tham cầu chứng đắc Niết bàn, nhàm lìa phiền não và tùy phiền não, so với hàng Thanh văn phải nên nhiều gấp trăm ngàn vạn ức lần! Bởi vì hàng Thanh văn chỉ lo tự thân thoát ly sinh tử, mà còn siêng năng tu tập, huống chi hàng Bồ tát là người muốn độ tất cả chúng sinh thoát ly khỏi sinh tử. Cho nên Bồ tát cần phải siêng năng tu tập tâm không nhiễm ô, bởi vì nếu như tự mình chưa thể giải thoát khỏi phiền não, thì làm thế nào mà độ thoát người khác ra khỏi phiền não? Như Đại Trang Nghiêm Kinh Luận nói:
Mạnh mẽ vác gánh nặng chúng sinh,
Phải bỏ biếng nhác, các tật hèn,
Vì muốn giải thoát mình và người,
Càng siêng năng gấp trăm ngàn lần.
Bồ tát có phương tiện thiện xảo, có thể hành xử tùy thuận các nghiệp hữu lậu, thế nhưng phải thành tựu pháp không tạp nhiễm, vượt hơn các vị A la hán. Trát Mục Tra Sớ nói: “Hàng Thanh văn độn căn còn có thể thấu rõ lỗi lầm của sinh tử, sinh lòng tha thiết nhàm lìa sinh tử, huống chi hàng Bồ tát lợi căn, đầy đủ vô lượng trí tuệ.” Nên biết như các Kinh đã nói: “Bồ tát không nên tham cầu Niết bàn, nên đi vào sinh tử”, là muốn nói hàng Bồ tát vì muốn lợi lạc chúng sinh, không nên nhất quyết nhàm lìa sinh tử, mong nhập Niết bàn, và cũng là muốn khen ngợi hàng Bồ tát không bị các nghiệp phiền não làm nhiễm ô, chứ không có ý muốn nói hàng Bồ tát không nên nhàm lìa các nghiệp phiền não cùng sự sinh tử do nghiệp phiền não chiêu cảm, và cũng không phải muốn nói không nên tham cầu chứng đắc Niết bàn.
Ngài Bồ Đề Hiền nói: “Ba loại vi phạm này, theo thứ tự, có thể phá hoại sự (1) đầy đủ tịnh mệnh, (2) không hành phóng dật, và (3) thường ham xa lìa trong luật nghi giới. Lại nữa, những nghề bán rượu, đao kiếm, thuốc độc, mua bán động vật, ép mỡ ép dầu, đều là tà mệnh, gọi là vi phạm. Huống là những nghề như đánh cá, săn bắn.”
K3. Chướng ngại việc lợi ích mình và người. Có hai phần:
L1. Không phòng hộ danh dự mình (vi phạm thứ mười bốn).
Kệ nói: “Không phòng hộ, biện bạch hủy báng”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có người đối với Bồ tát khởi lòng bất tín, chẳng hạn như bêu rêu, nhục mạ, đàm tiếu, (nếu như sự việc là thật) mà Bồ tát không chịu biện bạch phân minh, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; còn nếu như sự việc không thật mà không chịu biện bạch phân minh, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: bị ngoại đạo phỉ báng; hoặc bị những kẻ đố kỵ ghen ghét hủy báng; hoặc xuất gia, nhân đi khất thực, hoặc tu pháp lành mà bị hủy báng; hoặc bị kẻ đang giận dữ, hoặc tâm đang điên đảo hủy báng. Trong những trường hợp này, không biện bạch phân minh đều không vi phạm.
Nghĩa là tự mình gặp phải những lời không tin tưởng, không kính trọng, chẳng hạn như nhục mạ, chê bai, đàm tiếu, mà lại không chịu phòng hộ, biện bạch. Nếu sự việc đó đúng sự thật mà không ngăn ngừa, phòng hộ, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu sự việc không đúng sự thật mà không chịu biện bạch phân minh, đây là vi phạm không nhiễm ô. Ba việc nhục mạ, chê bai, đàm tiếu, như ngài Trác Long nói: “Theo như thứ tự, ý nói sự lầm lỗi có ba bậc thượng, trung, hạ.” Không phòng hộ, có nghĩa là không chịu dự phòng lỗi lầm sắp xảy ra, không biện bạch, có nghĩa là sự việc đã xảy ra lại không chịu tìm cách trừ diệt.
Những trường hợp không phạm: (1) Nếu người hủy báng là (a) ngoại đạo, (b) người ganh ghét tỵ hiềm, tuy đã khéo léo giải bày mà họ vẫn không tin hiểu, (c) người đang giận dữ, hung hăng hủy báng. Đối với những người như vậy, tuy bị hủy báng, không phòng hộ, không biện bạch cũng không vi phạm. Tân Sớ nói: “Nếu có ngoại đạo ganh tỵ với Bồ tát”, nghĩa là hợp hai điều (a) và (b) làm một ngoại đạo, đây là đi ngược với bổn ý của Luận Du Già. (2) Nếu sự việc phỉ báng liên quan đến: (a) nhân sự xuất gia, (b) nhân đi khất thực, (c) nhân tu pháp lành, mà bị hủy báng, bêu rêu, trong những trường hợp này, tuy bị hủy báng, nhưng không phòng hộ, không biện bạch, đều không vi phạm.
L2. Không dùng biện pháp mạnh để lợi ích chúng sinh (vi phạm thứ mười lăm).
Kệ nói: “Đối người phiền não cũng không trị”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy chúng sinh cần phải dùng những sự quở trách, trừng phạt nghiêm khắc mới có thể làm cho họ lợi ích, nhưng vì sợ họ sầu não cho nên không quở trách, trừng phạt, đây gọi là vi phạm không nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: biết sự quở trách, trừng phạt không làm lợi ích cho đối phương, mà lại còn làm cho họ sinh nhiều phiền não.
Giả như Bồ tát thấy các hữu tình, cần phải dùng những biện pháp mạnh làm cho họ đớn đau khổ sở, hoặc dùng các hành vi, ngôn ngữ hung tợn, làm phương tiện điều phục, để cho họ được lợi ích, thế nhưng, lại sợ họ sầu não, đối với những người cần phải điều phục, nếu không dùng những biện pháp trên để điều phục họ, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu như quán xét thấy rằng đối phương đối với những biện pháp này không thu hoạch được bao nhiêu lợi ích, mà lại còn sinh nhiều phiền não, tuy không dùng những phương tiện này để điều phục họ, cũng không vi phạm.
“Không được bao nhiêu lợi ích mà còn sinh nhiều phiền não”, có chú sớ giải thích như sau: “Đối phương không được bao nhiêu lợi ích, mà tự mình lại sinh nhiều phiền não.” Lại nữa, Tân Sớ nói: “Chữ cũng trong câu kệ trên có nghĩa là đối với hữu tình phiền não, không những dùng biện pháp mạnh, mà cũng nên dùng biện pháp mềm mỏng.” Sớ có ý muốn nói đối với hữu tình cần phải dùng biện pháp mạnh, mà cũng nên dùng biện pháp mềm mỏng để đối trị, nếu không như thế, thì cũng gọi là vi phạm. Nên biết, điều này có vẻ như hiểu lầm ý nghĩa của Luận Du Già. Chữ cũng này có nghĩa là nếu như hữu tình có nhiều phiền não, hoặc phạm tội nặng, tuy có thể điều phục, cũng không nên điều phục.
Tân Sớ nói: “Hai loại vi phạm này, theo thứ tự, có thể hủy hoại chánh niệm chánh tri, chánh hành phòng hộ đối với sự vi phạm của chính mình, quán sát suy ngẫm, khéo léo đối trị, có thể làm cho tiêu trừ, trong phần nhiếp thiện pháp giới; ngoài ra còn có thể hủy hoại sự quở trách nhiếp thoï trong phần nhiêu ích hữu tình giới.
J3. Chướng ngại nhẫn nhục. Có ba phần:
K1. Không chịu an nhẫn (vi phạm thứ mười sáu).
Kệ nói: “Bị người đánh, mắng, v.v..., liền trả đũa”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, bị kẻ khác mắng chửi liền mắng chửi lại, bị kẻ khác giận dữ liền giận dữ lại, bị kẻ khác đánh đập liền đánh đập lại, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Chữ “mắng” trong bài kệ, có nghĩa là do giận dữ mà mở lời mắng nhiếc (nhục mạ); chữ “v.v...” trong bài kệ, có nghĩa là “dùng sự giận dữ trả đũa sự giận dữ”, ý muốn làm cho đối phương nổi giận, bằng cách phát ra những lời thô tục; hoặc “dùng sự đánh đập trả đũa sự đánh đập”, ý muốn làm cho đối phương khổ sở, bằng cách đánh đập họ, hoặc “dùng sự châm chọc trả đũa sự châm chọc”, nghĩa là hai bên đem lỗi của đối phương mà châm chọc nhau.
K2. Không xả bỏ tâm sân hận triền miên. Có hai phần:
L1. Không tự xả bỏ (vi phạm thứ mười bảy).
Kệ nói: “Người giận, nghi, không tạ lỗi họ”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, xâm phạm người khác, hoặc tuy không xâm phạm, nhưng đối phương hiểu lầm là xâm phạm, Bồ tát vì tâm hiềm hận, ghen ghét, hoặc kiêu mạn, không chịu tạ lỗi đúng phép, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không tạ lỗi, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, làm cho họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành; hoặc biết đối phương là kẻ ngoại đạo, tà ác; hoặc đối phương muốn Bồ tát làm chuyện phi pháp rồi mới nhận sự tạ lỗi; hoặc biết đối phương là kẻ thích gây sự, sự tạ lỗi chỉ càng làm cho họ thêm phẫn nộ; hoặc biết đối phương là người ôn hòa, tâm không chấp nhất; hoặc biết sự tạ lỗi chỉ làm cho đối phương thêm hổ thẹn. Trong những trường hợp này, không tạ lỗi, không phạm.
Nếu như Bồ tát đã xâm phạm người khác, hoặc tuy không xâm phạm, nhưng đối phương nghi ngờ Bồ tát xâm phạm họ, tùy một trong hai trường hợp, nếu như Bồ tát khởi tâm hiềm hận tăng thượng, hoặc vì kiêu mạn, không chịu khiêm hạ, không chịu tạ lỗi đúng pháp, đây là vi phạm nhiễm ô, nếu như vì cá tính lười biếng, nhút nhát, phóng dật, mà bỏ lơ không tạ lỗi, đây là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: (1) nhân vì tùy nghi: nếu như vì muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, tuy không đến tạ lỗi, cũng không vi phạm, (2) đối tượng tạ lỗi: (a) đối phương là ngoại đạo, (b) đối phương muốn Bồ tát làm chuyện phi pháp, tội lỗi, rồi mới nhận sự tạ lỗi, (c) đối phương cá tính ưa thích hơn thua, nếu như tạ lỗi, lại làm cho họ tăng gia sự phẫn nộ, (d) đối phương có tính kham nhẫn, dù có tạ lỗi hay không, họ cũng không chấp nê, (e) đối phương không nhận sự tạ lỗi, hoặc sự tạ lỗi làm cho họ cảm thấy hổ thẹn. Trong năm trường hợp này, tuy không tạ lỗi, cũng không vi phạm. Lại nữa, trong năm trường hợp này, hai trường hợp cuối, Luận Du Già hợp lại thành một trường hợp, thế nhưng trong các bộ sớ khác, lại giải thích riêng biệt thành hai trường hợp. Ở đây y theo sớ mà nói.
L2. Không tha thứ lỗi lầm của người khác (vi phạm thứ mười tám).
Kệ nói: “Người tạ lỗi, cự tuyệt không nhận”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có người đến xâm phạm, nhưng họ đã tạ lỗi đúng phép, thế nhưng, Bồ tát ôm lòng hiềm hận, muốn làm cho đối phương sầu não, bèn không chịu nhận sự tạ lỗi của họ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; hoặc tuy Bồ tát không có tâm hiềm hận, không muốn làm cho đối phương sầu não, nhưng vì tâm tính hẹp hòi, không biết tha thứ, cho nên không thọ nhận sự tạ lỗi, đây cũng gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc đối phương tạ lỗi không bình đẳng, không đúng phép, do đó không nhận sự tạ lỗi. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nếu như có người đến xâm phạm Bồ tát, sau đó họ đã đúng pháp đến tạ lỗi bình đẳng, thế nhưng Bồ tát ôm lòng hiềm hận, vì muốn tổn hại, xúc não đối phương, cho nên không thọ nhận sự tạ lỗi của họ, đây là vi phạm nhiễm ô, hoặc tuy không có tâm hiềm hận, thế nhưng vì cá tính không kham nhẫn, cho nên không thọ nhận sự tạ lỗi, đây là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: (1) hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, tuy không thọ nhận sự tạ lỗi, cũng không vi phạm, (2) hoặc đối phương: (a) tạ lỗi không đúng pháp, (b) tạ lỗi không bình đẳng, trong hai trường hợp này, không nhận sự tạ lỗi cũng không vi phạm. Trường hợp trước, không đúng chánh lý, trường hợp sau, chỉ dùng đầu môi chót lưỡi. Hai bản sớ Tân, Cựu của Giới Nhị Thập Tụng đều nói: “ý nghĩa của trường hợp sau, nghĩa là không đúng thời”, nghĩa là đến tạ lỗi không đúng lúc. Lại nữa, Tân Sớ nói: “Đối với ngoại đạo, hoặc người ưa thích đấu tranh, tuy không nhận thọ sự tạ lỗi, cũng không vi phạm.”
K3. Không khởi tâm đối trị phiền não (vi phạm thứ mười chín).
Kệ nói: “Ôm trong lòng phẫn hận triền miên”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, ôm lòng oán hận kẻ khác, không chịu buông xả, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: tuy cố gắng tìm đủ mọi cách đoạn trừ, nhưng phiền não vẫn hiện hành, như phần trên đã nói qua.
Nghĩa là đối với người khác, khởi tâm oán hận, chấp chặt không xả, không thấy lỗi lầm đó, không chịu tìm cách đối trị, đây là vi phạm nhiễm ô, nếu như khởi tâm đối trị, tuy siêng năng tìm cách đoạn trừ, nhưng phiền não vẫn tiếp tục hiện hành, trong trường hợp này không vi phạm, như phần trên đã nói qua. Ngài Bồ Đề Hiền nói: “Đây là sự vi phạm ôm lòng oán hận không chịu buông xaû”.
Bốn điều vi phạm vừa đề cập ở trên, như Tân Sớ nói: “Hai vi phạm đầu, theo thứ tự, có thể phá hoại sự mong muốn làm lợi ích người khác trong phần luật nghi giới và thiện pháp giới, cùng phá hoại sự một chút ít phiền não oán hận của căn bổn phiền não sinh khởi cũng không thể nhẫn thọ trong phần nhiếp thiện pháp nhân duyên. Hai vi phạm sau, có thể phá hoại những gì, bộ sớ ấy không thấy nói đến.
J4. Chướng ngại tinh tiến. Có ba phần:
K1. Ý hướng hành vi hạ liệt (vi phạm thứ hai mươi).
Kệ nói: “Vì tham cung phụng, nuôi đệ tử”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, vì tham muốn sự cúng dường, cung phụng mà thâu nhận, nuôi dưỡng đệ tử, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: không do tham cầu sự cúng dường, cung phụng mà thâu nhận, nuôi dưỡng đệ tử.
Nghĩa là tham luyến một cách phi lý sự hầu hạ, cung phụng, cùng đem tâm ái nhiễm mong cầu sự cúng dường tiền tài mà nuôi dưỡng đệ tử, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu như không có tâm ô nhiễm mà nuôi dưỡng đệ tử, thọ nhận sự cúng dường, thì không vi phạm.
K2. Hành vi lười biếng (vi phạm thứ hai mươi mốt)
Kệ nói: “Không chịu khiển trừ lười, nhút nhát”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, lười biếng, nhút nhát, ham ưa ngủ nghỉ, ưa nằm, ưa dựa, không có giờ giấc, không biết hạn lượng, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: đang bị bệnh nặng; hoặc không có sức lực; hoặc đi đường xa về mệt mỏi; hoặc đang cố gắng đoạn trừ thói quen ngủ nghỉ, nhưng vẫn chưa đoạn trừ được, như phần trên đã nói qua.
Nghĩa là khởi tâm lười biếng, nhút nhát, v.v..., ham mê ngủ nghĩ, ưa nằm, ưa dựa, không có giờ giấc, không có hạn lượng, đây là vi phạm với tâm nhiễm ô.
Không có giờ giấc, nghĩa là ban ngày không phải là giờ ngủ nghỉ, v.v..., không có hạn lượng, nghĩa là ban đêm, ngoại trừ giữa đêm ra, đầu đêm, cuối đêm nghỉ ngơi, cũng đều gọi là không có hạn lượng.
K3. Ham việc đàm luận vô ích (vi phạm thứ hai mươi hai).
Kệ nói: “Ham nói vô nghĩa, vô lợi ích”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, ham thích bàn chuyện thế sự, lãng phí ngày giờ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lơ đãng mà lãng phí ngày giờ, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: thấy người khác bàn luận thế sự, vì muốn chiều ý họ, tạm thời lắng nghe trong chánh niệm; hoặc vì câu chuyện ly kỳ ít có mà tạm thời hỏi chuyện; hoặc trả lời những thắc mắc của đối phương. Trong những trường hợp này đều không phạm.
Nghĩa là do tâm ái nhiễm, lãng phí thì giờ, ham thích bàn chuyện thế sự, như chính trị, xã hội, chuyện trai gái, v.v..., đây là vi phạm nhiễm ô. Trát Mục Tra Sớ nói: “Đây là từ sự nghe người khác bàn luận mà lãng phí ngày giờ.” Lãng phí, nghĩa là từ lúc ban mai cho đến giữa trưa, hoặc từ lúc xế trưa cho đến đầu đêm, v.v...
Trường hợp không phạm: (1) phía người nghe: thấy người đang đàm luận, vì muốn chiều ý họ, bèn an trụ trong chánh niệm, tạm thời lắng nghe, cũng không vi phạm, (2) phía người nói: hoặc vì câu chuyện ly kỳ, hoặc tạm thời hỏi họ, hoặc trả lời câu hỏi của họ, như vậy, tuy bàn luận cũng không vi phạm. Ngài Tối Thắng Tử nói: “Nếu như trong lúc đang siêng năng tu tập các học xứ, những điều như trên, cũng gọi là vi phạm.”
Tân Sớ nói: “Ba sự vi phạm này, có thể phá hoại sự: nuôi dưỡng đệ tưû đúng pháp trong giới nhiêu ích hữu tình, thường thường dũng mãnh tinh tiến tu tập sáu ba la mật trong giới nhiếp thiện pháp, và tuy ở trong đám đông tạp nhạp, không đàm luận việc xấu ác tạp nhiễm trong giới nhiếp luật nghi.”
J5. Chướng ngại thiền định. Có ba phần:
K1. Chướng ngại gia hành (vi phạm thứ hai mươi ba).
Kệ nói: “Không chịu cầu thầy dạy tu định”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, muốn làm cho tâm an trụ, muốn được định tâm, nhưng vì hiềm hận, kiêu mạn mà không chịu đến nơi các vị thầy để thỉnh cầu sự chỉ giáo, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà không chịu thỉnh cầu, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.
Những trường hợp không phạm: đang bị bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc biết vị thầy đó chỉ dạy những việc điên đảo; hoặc tự mình học rộng, có đủ trí tuệ, có thể tự làm tâm định; hoặc trước đó đã học qua phương pháp tu tập. Trong những trường hợp này, không thỉnh cầu sự chỉ giáo, không phạm.
Nghĩa là muốn được định tâm, nhưng vì tâm hiềm hận, kiêu mạn, không đến tìm thầy, cầu thỉnh sự chỉ dẫn phương pháp làm cho tâm an trụ, đây là vi phạm nhiễm ô, nếu như vì lười biếng, nhút nhát mà không cầu thỉnh, thì vi phạm không nhiễm ô.
Trường hợp không vi phạm: hoặc vì tự thân: (1) đang bị bệnh, không có sức lực, (2) biết vị thầy đó chỉ dạy những sự điên đảo, (3) tự mình học rộng nghe nhiều, có thể tự làm cho tâm an trụ, tuy không cầu thỉnh, cũng không vi phạm; hoặc đã được chỉ dạy phương pháp tu tập, cho nên không cầu thỉnh, cũng không vi phạm.
K2. Chướng ngại chánh hành (vi phạm thứ hai mươi bốn).
Kệ nói: “Không bỏ ngũ cái, chướng thiền định”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, khởi tâm tham dục, nhưng không chịu tìm cách đoạn trừ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: đang cố gắng đoạn trừ phiền não tham dục, tuy siêng năng tìm mọi phương cách đối trị, nhưng phiền não vẫn tiếp tục hiện hành.
Tương tự, trường hợp các phiền não khác như sân khuể, hôn thụy, trạo cử, hoặc nghi ngờ, đều giống như trường hợp tham dục.
Nếu như một trong ngũ cái chướng ngại thiền định sinh khởi mà lại nhẫn thọ, không chịu trừ diệt, gọi là vi phạm nhiễm ô; nếu như khởi tâm mong muốn đoạn trừ, v.v..., tuy ngũ cái sinh khởi, cũng không vi phạm, như phần trên đã nói qua.
Ngũ cái là những gì? Khuyến Giới Vương Tụng của ngài Long Thọ Bồ tát nói:
Sân, trạo cử ác tác,
Hôn thụy, tham dục, nghi,
“Ngũ cái” gian tặc này,
Thường trộm các thiện lợi.
Trong đây trạo cử, ác tác hợp thành một cái; hôn (trầm), thụy (miên) hợp thành một cái.
Nói về ngũ cái, có hai phần. Trước nói về ngũ cái cùng nguyên nhân dẫn phát, kế đó nói về phương cách tịnh trừ ngũ cái.
1/ Tham dục: là tâm ham thích chạy theo năm cảnh sắc, thanh, v.v... Nguyên nhân dẫn phát: đối với trần cảnh, sinh khởi ý tưởng điên đảo, cho rằng cảnh giới là khả ái, thanh tịnh.
2/ Sân khuể: là đối với người khác, khởi tâm tổn hại, làm cho đối phương tổn hoại, sầu não. Nguyên nhân dẫn phát: đối với cảnh giới trái ý, tâm nhớ nghĩ không nguôi, nhân đó sinh khởi tâm phẫn nộ.
3/ Hôn trầm (hàm nhiếp trong tâm si): là nội tâm hôn muội, không tự khống chế; thụy miên (hàm nhiếp trong tâm si), tâm không tùy cảnh. Nguyên nhân dẫn phát: tâm ở trong trạng thái u ám, không có tướng quang minh.
4/ Trạo cử (hàm nhiếp trong phiền não tham): là tướng không tịch tĩnh; ác tác, nghĩa là sau khi trạo cử, hồi tưởng lại bèn sinh tâm hối hận bứt rứt. Nguyên nhân dẫn phát: do sự hồi ức nghĩ ngợi không nguôi về những người thân thuộc, hoặc hoàn cảnh chung quanh, hoặc nhớ lại những cảnh ngộ vui buồn trong quá khứ, v.v...
5/ Nghi: nghĩa là đem vọng tình của mình, do dự nghi ngờ ba đời là có hoặc không có, hoặc nghi ngờ Tam bảo, nghiệp báo, nhẫn đến Tứ đế. Nguyên nhân dẫn phát: do kiến giải sai lầm về các pháp: ba đời, v.v...
Kế đến, nói về phương cách diệt trừ các chướng ngại trên. Có hai phần: 1/ trước tiên dùng phương pháp đối trị để diệt trừ, 2/ dùng uy nghi của thân để diệt trừ.
1/ Dùng phương pháp đối trị để diệt trừ. Có ba phần:
a/ Dùng pháp tăng thượng để tịnh trừ: để đối trị sự tham dục, nên tu các pháp quán tưởng bất tịnh như bầm xanh, bành trướng, mủ máu, bầy nhầy, ...; để đối trị sân hận, nên tu quán từ bi; để đối trị hôn trầm, nên tu quán các tướng ánh sáng mặt trời, mặt trăng, làm cho tâm sáng suốt; hoặc tu pháp lục niệm, tùy sở thích tu niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên; hoặc quán cảnh duyên thanh tịnh để khuyến tấn chính mình; hoặc quán các phương hướng, hoặc mặt trăng, tinh tú, v.v...; hoặc dùng nước mát rửa mặt, gội đầu; để đối trị điệu cử, ác tác, nên chánh trụ tâm nơi một cảnh, tu tam ma địa; để đối trị tâm nghi, nên quán sát các pháp quá khứ đã sinh, cùng các pháp vị lai sẽ sinh, đều chỉ là các pháp nhân quả, đều không có ngã; đối với pháp có cho là có, đối với pháp không có cho là không có; kiến giải chính xác, xa lìa sự tăng (chấp có), tổn (chấp không); lại phải nên tụng niệm kinh, luận nói về sự quở trách, diệt trừ ngũ cái, hoặc nói về sự tai hại của ngũ cái, hoặc khen ngợi công đức của sự xa lìa ngũ cái; suy ngẫm nghĩa lý, các phiền não chưa sinh khởi, làm cho không sinh khởi, nếu đã sinh khởi, làm cho trừ diệt.
b/ Do tự mình tu tập mà tịnh trừ: quán sát ngũ cái, bất cứ phiền não (cái) nào sinh khởi, đều làm cho tâm mình sinh khởi các tạp nhiễm, làm cho trí tuệ giảm thiểu, tổn hại các pháp lành, đây không phải là điều nên làm, bèn sinh tâm hổ thẹn; đối với ngũ cái, tìm cách trừ diệt, quyết không nhẫn thọ.
c/ Y vào pháp thế gian mà tịnh trừ: quán sát rằng khi một “cái” sinh khởi, nếu như không tịnh trừ, sẽ bị Thượng sư, cùng các vị trời có tha tâm thông, hoặc các vị đồng pháp có trí tuệ, quở trách, chê bai, cho nên lúc phiền não chưa sinh khởi, làm cho không sinh khởi, nếu như đã sinh khởi, liền tìm cách khiển trừ.
2/ Dùng uy nghi của thân để tịnh trừ: nghĩa là đối với phiền não thụy miên, hôn trầm, nên đứng dậy kinh hành để diệt trừ, còn đối với bốn phiền não kia, nên ngồi kiết già, dùng pháp tịnh trụ (thiền định) để diệt trừ; lại nữa, đối với các phiền não, trong tất cả mọi thời, phải nên xả bỏ không nhẫn thọ, chứ không phải chỉ riêng lúc ngồi thiền.
K3. Chướng ngại chung hành (vi phạm thứ hai mươi lăm).
Kệ nói: “Cho thiền thế gian là công đức”
Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, tham đắm thiền định thế gian, cho là có công đức, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.
Những trường hợp không phạm: đang cố gắng đoạn trừ sự tham đắm thiền định thế gian, nhưng vẫn chưa đoạn trừ được, như phần trên đã nói qua.
Nếu như trong lúc tu tập tĩnh lự, khởi tâm tham luyến cảnh giới thiền định, ưa thích sự hỷ lạc, thấy là có công đức, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu như đang cố gắng đối trị, nhưng vẫn còn tiếp tục tham luyến, trong trường hợp này không vi phạm, như phần trên đã nói qua.
Các bộ luận đều cho rằng đây là tai hại của sự ưa thích, thỏa mãn đối với thiền định, thế nhưng, đây là điều phi lý, bởi vì lúc cảnh giới thiền định sinh khởi, có bốn loại phiền não: (1) tham luyến, (2) kiêu mạn, (3) si mê, (4) chấp kiến.
Tân Sớ nói: “Ba sự vi phạm này, theo thứ tự, có thể: (1) trong nhiếp luật nghi giới: hủy hoại sự phát khởi vô lượng đẳng trì của Bồ tát, cùng sự không phát khởi các tầm tư ác, (2) trong nhiếp thiện pháp giới: hủy hoại sự không nhẫn thọ các phiền não của thiền định (đẳng chí), cùng sự không nhẫn thọ các sự tham luyến thiền định trong nhiếp thiện pháp giới.
|