Phần 9
L2. Nêu rõ sự khác biệt giữa tính tội của giới Bồ tát và tính tội của giới biệt giải thoát.
Kệ nói: “Vì lòng thương xót, không vì ác”
Giới văn (tiếp): Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, dùng phương tiện thiện xảo, vì muốn lợi người, lỡ phạm vào các tính tội, do nhân duyên lợi người này nên không gọi là vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Chẳng hạn, như Bồ tát thấy kẻ trộm cướp, vì tham tiền của, đang muốn giết hại nhiều người, hoặc đang muốn giết hại các bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, hoặc đang muốn tạo nhiều nghiệp vô gián. Bồ tát thấy điều đó rồi, bèn suy ngẫm như thế này: “Nếu giết kẻ ác đó, ta sẽ bị đọa vào địa ngục, nếu như không giết, để kẻ đó tạo nghiệp vô gián, sẽ chịu khổ lớn trong đời vị lai. Ta thà giết kẻ ác đó mà bị đọa vào địa ngục, quyết không để họ nhận chịu những quả báo khổ ở địa ngục vô gián.” Bồ tát suy nghĩ cặn kẻ, đối với kẻ ác, hoặc dùng tâm lành, biết rõ sự việc như thế, vì quả báo ở đời vị lai, sinh lòng rất hổ thẹn, dùng tâm thương xót mà sát hại kẻ ác. Do nhân duyên này, không những không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát thấy những bậc quyền thế, hoặc vua, hoặc quan, cực kỳ tàn ác, đối với nhân dân không có lòng thương xót, mà lại chuyên làm những việc áp bức, làm cho mọi người khổ não, ta thán. Bồ tát thấy điều đó rồi, khởi lòng thương xót, phát tâm làm lợi ích cho mọi người, bèn tùy quyền lực sẵn có của mình, hoặc truất phế, hoặc trục xuất những kẻ quyền thế kia. Do nhân duyên này, không những không vi phạm học xứ của Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát thấy những kẻ trộm cướp, xâm đoạt tài sản của người khác, hoặc vật của chúng tăng, hoặc vật của chùa tháp, sau đó đem tài sản đã cướp giật được, xem như của mình, mặc tình tiêu xài hoang phí. Bồ tát thấy điều đó rồi, khởi lòng thương xót, đối với những kẻ ấy, phát tâm làm lợi ích an lạc cho họ, do đây, tùy vào sức lực, hoặc thế lực đang có, cưỡng đoạt lại những đồ vật đã bị cướp giật, không để cho họ sử dụng một cách hoang phí, mà phải chịu những sự trừng phạt, khổ đau trong một thời gian lâu dài. Do nhân duyên này, những đồ vật đã bị cưỡng đoạt, nếu là đồ vật của chúng tăng, hoàn trả cho chúng tăng, đồ vật của chùa tháp, hoàn trả cho chùa tháp, đồ vật của chúng sinh, hoàn trả cho chúng sinh.
Lại thấy những vị chấp sự, hoặc quản lý ruộng vườn, lấy đồ vật của chúng tăng, hoặc đồ vật của chùa tháp, cho là của mình, mặc sức tiêu dùng. Bồ tát thấy điều đó rồi, suy ngẫm về việc ác của họ, khởi lòng thương xót, không để cho họ nhân vì sự thọ dụng tà vạy này mà phải nhận chịu những sự trừng phạt khổ đau một cách vô ích trong thời gian lâu dài, do đây Bồ tát tùy sức lực, hoặc thế lực của mình, đoạt lại những đồ vật ấy. Bồ tát tuy làm những việc cưỡng đoạt như thế, không những không vi phạm học xứ của Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát tại gia, thấy có người nữ, không có thân thuộc, quen thói dâm dục, để tâm đến Bồ tát, muốn làm việc “phi phạm hạnh”. Bồ tát thấy được điều đó rồi, suy ngẫm như sau: “Không nên để cho họ sầu não mà làm những chuyện quàng xiêng, nếu như chiều theo ý muốn của họ, sẽ được tự tại, dùng phương tiện hướng dẫn, làm cho họ trồng căn lành, lại làm cho họ xả bỏ thói quen bất thiện.” Bồ tát dùng tâm thương xót mà làm việc “phi phạm hạnh”. Tuy làm những pháp “nhiễm ô” như vậy, không những không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức. Còn Bồ tát xuất gia, vì muốn hộ trì giáo pháp Thanh văn mà Đức Thế Tôn đã chế định, làm cho chánh pháp không bị hoại diệt, tuyệt đối không được làm việc “phi phạm hạnh”.
Lại như, Bồ tát đối với bản thân mình, tuy bị nguy hiểm tính mạng cũng không nói dối, thế nhưng, vì muốn cứu vớt những chúng sinh khác ra khỏi những sự nguy hiểm tính mạng, hoặc thoát khỏi tù đày, hoặc thoát khỏi các hình phạt như cắt tay chân, xẻo mũi, xẻo tai, móc mắt, vân vân, tuy biết nhưng vẫn nói dối. Nói tóm lại, Bồ tát vì muốn lợi ích chúng sinh, không phải việc không lợi ích, tự mình không có tâm nhiễm ô, mong cầu, mà chỉ vì muốn lợi ích kẻ khác, tuy biết nhưng vẫn nói khác sự thật, như thế, vẫn không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát thấy có chúng sinh bị bạn bè ác dụ dỗ, khắn khít không rời. Bồ tát thấy được việc đó rồi, sinh lòng thương xót, phát tâm muốn làm lợi ích, tùy khả năng, hoặc thế lực của mình, nói lời ly gián, không để cho chúng sinh đó, vì gần bạn ác mà phải chịu sự khổ đau vô ích trong thời gian lâu dài. Bồ tát dùng tâm lợi ích như vậy, tuy nói lời ly gián, chia rẽ sự thân ái của kẻ khác, nhưng vẫn không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát thấy có chúng sinh làm những điều ngang ngược, trái với pháp thế gian, bèn lớn tiếng quở trách, nói lời thô bạo, dùng phương tiện này làm cho họ rời bỏ việc ác, quay về nẻo lành. Bồ tát dùng tâm lợi ích như thế, tuy đối với chúng sinh nói lời thô ác, nhưng vẫn không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Lại như, Bồ tát thấy các chúng sinh ưa thích những việc diễn xướng, ngâm vịnh, ca hát, hoặc thích đàm luận những chuyện thời sự chính trị, ăn uống, du hí, mách lẻo, vân vân. Bồ tát đối với những việc như vậy, phải nên rất khéo léo, đối với chúng sinh như vậy nên khởi lòng thương xót, muốn làm lợi ích cho họ, bèn tùy thuận hiện tướng ưa thích những việc diễn xướng, ngâm vịnh, ca hát, hoặc đàm luận những chuyện thời sự chính trị, ăn uống, du hí, mách lẻo, vân vân, dùng phương tiện này để nhiếp phục, dẫn dắt họ ra khỏi sự ưa thích những chuyện thị phi vô ích này, quay về đường lành. Bồ tát tuy hiện tướng ỷ ngữ như vậy, nhưng không vi phạm học xứ Bồ tát, mà còn được nhiều công đức.
Ở đây, Bồ Tát Địa, nhẫn đến hai bộ sớ Giới Nhị Thập Tụng Cựu Sớ và Giới Phẩm Sớ, chỉ nói đến việc khai duyên cho phép phạm bảy chi (thân ba, khẩu bốn), mà chưa nói rằng: “Vì lợi ích người khác, nếu như không thực thi, sẽ vi phạm giới luật.” Chỉ có Tân Sớ liệt kê bốn mươi sáu tội vi phạm (giới khinh), đem điều này làm tội vi phạm thứ nhất. Bộ sớ đó nói: “Đây là sự khai phóng điều giới Không cùng tu học làm cho người khác sinh khởi lòng tin”, thế nhưng, ngài Tối Thắng Tử và Trát Mục Tra Sớ đều nói: “Nên biết ở đây là sự chỉ rõ tướng trạng sai biệt giữa tính tội của giới Bồ tát và giới Thanh văn.”
Nghĩa là chư Bồ tát dùng phương tiện thiện xảo, vì lợi lạc chúng sinh, tuy đôi phần vi phạm tính tội trong giới biệt giải thoát, không những không vi phạm giới luật của Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
Ở đây muốn nói đến bảy chi tội của thân và miệng. Đối với nghiệp của thân, trong Luận Du Già, chỉ khai riêng điều giới tà dâm cho Bồ tát tại gia, mà không cho Bồ tát xuất gia vi phạm điều giới này, lý do là Bồ tát xuất gia phải hộ trì giáo giới của Thanh văn mà Đức Thế Tôn đã chế định, vì không muốn hủy hoại tất cả, cho nên không làm phi phạm hạnh; còn sáu điều giới kia như trộm cắp, v.v..., thì khai cho cả hai hàng Bồ tát tại gia và xuất gia.
Hỏi: Nếu vậy, hàng Bồ tát được cho phép vi phạm sáu điều giới kia là tại gia hay xuất gia? Nếu là hàng xuất gia, thì hai giới tà dâm và sát sinh, nếu cho phép (khai) hoặc ngăn cấm (giá), phải nên không có sự khác biệt, bởi vì hai tội này đều là phạm tội căn bản. Còn nếu là hàng tại gia, ắt là những điều mà Luận Du Già nói, cũng có sự mâu thuẫn, vì đối với giới tà dâm thì phân biệt tại gia xuất gia, còn các giới khác thì không phân biệt. Học Tập Luận nói: “Nếu thấy điều lợi ích cho chúng sinh, vì muốn có phương tiện để thực thi, nên xả học xứ (nghĩa là xả những điều giới đã thọ), nếu Bồ tát đã nhiều kiếp tu tập, có lòng Đại bi, đã viên mãn tất cả thiện căn đã vun trồng, thì các sự tham dục, v.v..., không còn làm chướng ngại; lại nữa, Phương Tiện Thiện Xảo Kinh nói: “Lúc xưa, Phạm chí Quang Minh, trong bốn vạn hai ngàn năm, nghiêm trì phạm hạnh, sau khi bỏ đi bảy bước, bèn khởi lòng thương xót, nghĩ rằng “Nếu như ta xả bỏ cấm giới sẽ bị đọa địa ngục, thế nhưng ta thà nhẫn thọ sự khổ địa ngục, không nên từ chối sự dục lạc, làm cho người ấy mệnh chung”, nghĩ xong, Phạm chí Quang Minh bèn quay lại chỗ cũ, nắm lấy tay phải của người ấy, nói lời như vầy: “Này cô, tùy ý cô muốn.” Nếu nói như vậy, chẳng lẽ không mâu thuẫn?
Trả lời: Không có mâu thuẫn. Nếu Bồ tát chỉ vì muốn tự lợi, phải nên tuân thủ những điều giới như trộm cắp, v.v..., còn nếu như vì lợi ích người khác, thì được cho phép vi phạm. Lúc đó, không thể gọi là tội căn bản trộm cắp, v.v..., cho nên Bồ tát xuất gia, vì lợi ích chúng sinh, cũng không bị phạm vào các tội căn bản trộm cắp, vọng ngữ, v.v... Trường hợp tà dâm cũng thế, không có gì khác biệt!
Hỏi: Nếu vậy, tại sao chỉ riêng giới tà dâm, lại phân biệt tại gia, xuất gia?
Trả lời: Cũng không có mâu thuẫn, bởi vì, tuy tạo các nghiệp sát sanh, trộm cắp, vọng ngữ, v.v..., cũng chưa nhất định phạm tội căn bổn, nếu như đã thọ giới tỳ kheo, mà phạm tội tà dâm chắc chắn sẽ phạm tội căn bản. Như thế, mật ý muốn nói sự khác biệt giữa tại gia và xuất gia, so với Học Tập Luận cũng không có sự tương vi. Phàm sự tu phạm hạnh, có thể dẫn phát sự lợi tha thù thắng, nếu xả bỏ điều này, thì không thể tăng thượng lợi ích hữu tình. Giả sử, thấy được sự việc có thể làm tăng thượng lợi ích hữu tình hiện ở trước mặt, cần phải phạm tội biệt giải thoát căn bản, cần phải xả giới, nên biết trường hợp này thì cho phép Bồ tát tại gia làm như thế, không phải cho phép Bồ tát xuất gia. Nếu nói rằng cho phép Bồ tát xuất gia xả bỏ giới luật để làm việc lợi tha, thì đây là điều hoàn toàn không có.
Lại nữa, vì muốn lợi tha mà tạo các nghiệp sát sanh, v.v..., là hạng Bồ tát nào? Bản cựu dịch của Học Tập Luận nói: “Ở đây muốn nói đến các hành giả siêng năng tu tập lục độ, nhưng chưa chứng sơ địa, chứ không phải nói đến các hành giả khác.” Tân Sớ thì lại nói: “Đây là chư Đại Bồ tát đã lên Thập địa.” Đã nói “Đã lên Thập địa”, lại còn nói “Siêng năng tu tập lục độ”, điều này không có lý, nếu y theo bản cựu dịch, điều này có vẻ hợp lý hơn.
Thế nhưng, như phần trước, trong Học Tập Luận dẫn Thiện Xảo Phương Tiện Kinh, cho rằng không phải là các hành giả sơ cơ mới bắt đầu tu tập lục độ mà có thể thực hành các phương tiện thiện xảo này, mà phải là các vị Đại Bồ tát trải qua nhiều kiếp tu hành các phương tiện thiện xảo, thành tựu đại bi mới được, nghĩa là chư Bồ tát, do đã chánh thọ Bồ tát tịnh giới, đối với Bồ tát học xứ, đã như lý tu tập, phát khởi tâm Bồ đề thù thắng, thương yêu chúng sinh hơn chính mình, phương tiện thiện xảo quyền biến, vì muốn lợi ích người khác, trừ việc sát sinh ra, không còn phương pháp nào khác để cứu họ, trong trường hợp này Bồ tát mới được phép (phạm giới sát sanh), chớ không phải tất cả hành giả Đại thừa đều được phép làm như vậy. Ngay đến Bồ tát sơ học, còn không cho phép phạm, huống hồ là những người không biết hộ trì tịnh giới, mạo nhận là hành giả Đại thừa! Bọn họ tuy cũng phát tâm tương tự như thương xót, hoặc phát tâm tương tự như Bồ tát, nhưng quyết không cho phép làm. Tương tự, như trong giới biệt giải thoát, nếu như có tỳ kheo có bệnh, quá ngọ không ăn có thể làm cho bệnh tình thêm tổn hại, nếu ăn thì sẽ lành bệnh, trong trường hợp này cho phép vị ấy ăn sau giờ ngọ, thế nhưng, những vị xuất gia tỳ kheo khác, phải nên thủ hộ điều giới “quá ngọ bất thực” này!
Trong Kinh mà Học Tập Luận đã dẫn chứng, tuy chỉ nói đến giới tà dâm, thế nhưng phải biết các tội căn bản khác, như sát sanh, v.v..., cũng tương tự như trường hợp giới tà dâm. Lại nữa, bốn tội căn bản như vọng ngữ, v.v..., cùng tội trộm cắp, phần sau sẽ nói đến.
Chư Bồ tát như lý hộ trì giới luật, muốn làm lợi ích lớn cho hữu tình, không còn phương tiện nào khác để đạt đến mục đích, vì muốn lợi ích cho họ, phải nên hiện hành phạm giới, lúc đó phải nên quán xét kỹ lưỡng chỗ phát tâm của mình có phạm hay không. Phải biết đây là cảnh giới riêng của chư Phật, cực kỳ vi tế, cực kỳ khó làm. Các ngài Hải Vân, Tối Thắng Tử và quyển Trát Mục Tra Sớ đều cho rằng những hành giả đó, phải là những bậc đã chứng Thanh tịnh ý lạc (sơ địa), không còn nhiễm ô, đạt đến cảnh giới tự tại của chư Đại Bồ tát, không phải cảnh giới mà những người trí tuệ thấp kém, thiện căn ít ỏi, tham cầu tự lợi, chấp trước vào văn tự có thể đạt đến. Đây là hiện lượng chứng biết của chư Phật, không phải là chỗ làm của người khác, nếu như làm càn, tất định sẽ chiêu cảm ác báo!
Các tính tội được khai, có bảy loại:
1/ Khai giới sát sanh.
a/ Đối tượng: nghĩa là Bồ tát thấy người trộm cướp, vì tham tài vật, muốn giết hại nhiều người, hoặc là muốn sát hại các bậc đại đức Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, tạo nghiệp vô gián địa ngục.
b/ Lòng mong muốn: nghĩa là Bồ tát, sau khi thấy sự việc đó, bèn tự suy ngẫm “ta chẳng thà giết chết người đó rồi đọa địa ngục, quyết không để cho người đó tạo thành nghiệp vô gián, bị đọa địa ngục, chịu khổ não lớn”; vị Bồ tát đó khởi lòng thương xót, tự nguyện thay thế người khác chịu khổ, trong lúc sát hại, hoặc dùng tâm lành, hoặc tâm vô ký, hoàn toàn là tâm thanh tịnh không nhiễm ô.
Có người cho rằng lúc Bồ tát bị người khác giết hại, khởi ý nhạo như vậy. Điều này không có lý.
Như Luận Du Già nói: “Sinh lòng cực kỳ hổ thẹn”, nghĩa là trừ phương pháp này ra, không còn phương tiện nào khác, do nhân duyên này, sinh lòng cực kỳ hổ thẹn. Tuy giết hại đối phương, đối với giới Bồ tát, không những không vi phạm, mà còn sinh trưởng nhiều công đức.
2/ Khai giới trộm cắp. Có ba phần:
a/ Phần một.
i/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy các quan lớn quyền thế, hành động cực kỳ bạo ác, đối với nhân dân không có lòng thương xót, chuyên môn bóc lột làm nhân dân đồ thán, nếu như không truất phế lật đổ họ, trong tương lai, bọn họ ắt sẽ thọ nhiều quả báo khổ.
ii/ Lòng mong muốn: Bồ tát thấy những quan quyền bạo ác, bèn sinh khởi tâm muốn giúp cho bọn họ được lợi ích, an lạc (nghĩa là không bị thọ quả báo khổ trong tương lai), bèn tùy khả năng của mình, truất phế lật đổ những kẻ quan quyền đó.
b/ Phần hai.
i/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy người trộm cướp, cướp đoạt tài vật của người khác, chẳng hạn như đồ vật của tăng già, của tốt đỗ ba (Phật và pháp), đoạt nhiều tài vật, tận tình thọ dụng.
ii/ Lòng mong muốn: Bồ tát sau khi thấy được sự việc đó, muốn làm cho bọn họ không được thọ dụng những tài vật đó, để bọn họ khỏi phải sống trong những đêm dài tăm tối, không ý nghĩa, không lợi ích, do nhân duyên này, cưỡng bức người đó, đoạt lấy tài vật, đem hoàn lại cho tăng già, cho tốt đỗ ba.
c/ Phần ba.
i/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy các vị quản chúng, hoặc quản lý vườn rừng, lấy đồ vật của tăng già, hoặc của tốt đỗ ba, cho là của mình, tận tình hưởng dụng.
ii/ Lòng mong muốn: như phần trên đã nói, Bồ tát tùy theo khả năng của mình, truất phế bọn họ ra khỏi chức vị đó.
Bồ tát tuy làm chuyện tranh đoạt như vậy, không vi phạm giới luật Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
3/ Khai giới tà dâm.
a/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy có người nữ, hiện không có hệ thuộc, quyến luyến Bồ tát, muốn làm việc phi phạm hạnh, nếu như Bồ tát ôm lòng giận dữ bực dọc, không chiều theo ý họ, họ sẽ mệnh chung. Có Sớ giải nói: “Đã nói người nữ hiện không có hệ thuộc, thì phải nên xa lìa việc tà dâm.” Thế nhưng, lối giải thích như vậy, hoàn toàn không hợp lý, vì ở đây đang nói đến việc khai giới tà dâm. Học Tập Luận nói: “Ở nơi hẻo lánh tịch tĩnh, hoặc có hệ thuộc, hoặc không có hệ thuộc, hoặc vì bảo hộ dòng họ, hoặc vì bảo hộ pháp lý, hoặc vì bảo hộ danh giá, đều không nên phạm giới tà dâm”, nghĩa là đối với người có chồng, hoặc không có chồng, đều không nên phạm giới tà dâm với họ. Lại nữa, Học Tập Luận nói: “Đối với người tu phạm hạnh (nghĩa là xuất gia), vì muốn thành tựu lợi ích cho họ, nên tưởng nghĩ họ như là mẹ, là chị của mình, mà xa lìa tà hạnh.”
Điều giới này chỉ cho phép Bồ tát tại gia, chứ không phải cho phép tỳ kheo thấy sự lợi ích thù thắng hiện tiền mà có thể xả bỏ học xứ (nghĩa là phạm giới tà dâm). Nghĩa lý này y như Bồ Tát Địa đã nói. Tân Sớ nói: “Làm việc tà dâm, gọi là phạm tội, có thể mau đọa địa ngục, làm cho nhiều tín đồ không còn tin Thánh giáo. Người trên thế gian phần nhiều phạm điều giới này, cho nên Bồ tát không nên gần gũi hạnh tà dâm, ngoài ra, những việc như sát sanh, v.v..., cũng không nên làm.”
b/ Lòng mong muốn: nghĩa là không làm cho đối phương khởi tâm buồn phiền mà làm điều bất hạnh; nếu như chiều theo ý muốn của họ, thì sẽ có phương tiện tự tại, làm cho đối phương trồng căn lành, đồng thời làm cho họ xa lìa nghiệp ác, bèn dùng tâm từ bi mà làm việc tà dâm.
Tuy làm việc ô uế cấu nhiễm như vậy, không những không vi phạm giới luật Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
4/ Khai giới vọng ngữ.
a/ Đối tượng: ví như Bồ tát, thấy nhiều hữu tình đang bị nguy hiểm đến tính mạng, bị các hoạn nạn như chặt tay chặt chân, thẻo mũi cắt tai, móc mắt, v.v...
b/ Lòng mong muốn: nghĩa là muốn cứu hộ sự hoạn nạn của những hữu tình đó.
c/ Sự khác biệt giữa vì mình và vì người: ví như Bồ tát, nếu vì tự lợi, tuy gặp nguy hiểm đến tính mạng, cũng quyết không nói dối, thế nhưng, nếu vì lợi tha, biết rõ điều cần phải làm, cho nên được phép nói dối, đây là sự khác biệt giữa tự lợi và lợi tha.
Nói tóm lại, chỉ cần quán xét xem việc làm có lợi ích cho hữu tình hay không, tự mình không có tâm nhiễm ô, chỉ có tâm làm lợi ích hữu tình, bèn che lấp sự thật, nói lời không thực, lúc nói lời đó, không những không vi phạm giới Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
5/ Khai giới nói lời ly gián.
a/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy các hữu tình đang bị bọn bạn ác dẫn dụ.
b/ Lòng mong muốn: vì thấy rằng nếu gần gũi bạn ác sẽ chịu trải qua những đêm dài vô nghĩa lý, vô lợi ích, do nhân duyên này, nói lời ly gián, làm cho hai bên phân cách.
Bồ tát tuy nói những lời ly gián như vậy, không những không vi phạm giới Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
6/ Khai giới nói lời thô ác.
a/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy các hữu tình làm điều quá đáng, làm điều phi lý.
b/ Lòng mong muốn: nghĩa là dùng phương tiện nói lời thô ác, làm cho hữu tình đó xa lìa nẻo ác, quay về đường lành.
Bồ tát tuy nói những lời thô ác như vậy, không những không vi phạm giới Bồ tát, mà còn tăng trưởng thêm nhiều công đức.
Trát Mục Tra Sớ nói: “Làm điều quá đáng, nghĩa là làm mười điều ác, hoặc là biết Đại thừa mà lại tu Tiểu thừa, hoặc là biết Tiểu thừa mà lại tu ngoại đạo; làm điều phi lý, nghĩa là tuy biết đạo lý, thế nhưng đối với học xứ lại biếng nhác không tu học, không cung kính.”
7/ Khai giới ỷ ngữ.
a/ Đối tượng: ví như Bồ tát thấy các hữu tình ưa thích ca hát, ngâm vịnh, hoặc ưa thích đàm luận những chuyện vô nghĩa như chánh trị, quân sự, ăn nhậu, trai gái, mách lẻo, v.v...
b/ Sự khác biệt giữa vì mình và vì người: nghĩa là Bồ tát đối với các phương diện ca hát, v.v..., đều rất rành rọt, khéo léo; đối với những hữu tình đó khởi lòng thương xót, phát tâm muốn làm lợi ích cho họ, bèn cùng họ ca hát, ngâm vịnh, bàn luận những chuyện vô nghĩa như chánh trị, quân sự, ăn nhậu, trai gái, mách lẻo, v.v..., làm cho những hữu tình đó vui vẻ nghe lời, sau đó dùng phương tiện làm cho họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành.
Bồ tát tuy nói những lời vô nghĩa như vậy, không những không vi phạm giới luật Bồ tát, mà còn sinh trưởng thêm nhiều công đức.
Những điều nói trong Luận Du Già, cũng đồng như Đại Nhật Kinh. Ngoài việc khai bảy chi thân và miệng ra, chưa thấy khai ba nghiệp của ý (tức là tham sân si). Như ngài Pháp Thạnh nói: “Nếu như bỏ bớt tâm tự lợi, chuyên vì lợi tha, phổ biến tương ưng với tất cả lòng thương xót; trừ khi có ác ý, hoặc khởi tà kiến, ngoài ra, tất cả việc khác đều cho phép. Thế nhưng phải cẩn thận y vào các bộ luận về Bồ tát tịnh giới mà thẩm định”, nghĩa là phải y vào thánh ngôn lượng. Ngài Bồ Đề Hiền nói: “Như vậy, tuy khai các tính tội trong giới biệt giải thoát, nhưng vẫn không vi phạm, mà lại sinh trưởng nhiều công đức, huống là các giới khác.” Do ý nghĩa này, đối với hữu tình, nếu thấy có sự lợi ích lớn, vì muốn lợi ích cho họ, tuy khai các học xứ đồng với biệt giải thoát, cũng không vi phạm, phải biết cũng giống như phần trước.
|