TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

A Di Da

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận
 

 

Thượng sư Tsong Kha Pa tạo luận
Thang Hương Danh dịch Tạng Hán
Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt

 

Bồ Đề Chánh Đạo
Bồ Tát Giới Luận


Phần 8


G2. Các tội vi phạm. Có hai phần:
H1. Nói tổng quát.

            Vị Bồ tát an trụ trong tịnh giới luật nghi của Bồ tát, đối với sự vi phạm hoặc không vi phạm, nhiễm ô hoặc không nhiễm ô, cùng bậc thượng, trung, hạ, phải nên biết rõ. Ở đây nói có sự vi phạm hay không vi phạm, vi phạm nhiễm ô hay không nhiễm ô, trong phần vi phạm sẽ nói rõ từng việc. Còn bậc (phẩm) thượng, trung, hạ sẽ được nói ở phần sau.

H2. Giải thích tường tận. Có hai phần:
I1. Vi phạm lục độ nhiếp thiện pháp giới. Có sáu phần:
J1. Chướng ngại Bố thí. Có năm phần:
K1. Chướng ngại tài thí (vi phạm thứ nhất).

            Kệ nói: “Không dùng ba môn cúng Tam bảo”
           
            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, trong mỗi ngày, hoặc đối với Đức Như Lai, hoặc đối với tháp miếu, hoặc đối với Chánh pháp, hoặc đối với Kinh luận, hoặc đối với chúng tăng, nghĩa là các vị Bồ tát đăng địa ở mười phương, nếu như không dùng phẩm vật, dù ít dù nhiều, để cúng dường, hoặc tối thiểu cung kính một lạy, hoặc dùng một bài kệ bốn câu để tán thán công đức chân thật của Phật pháp tăng, hoặc trong một niệm sinh khởi lòng tin thanh tịnh, tưởng nghĩ đến công đức chân thực của Tam bảo, mà để luống uổng ngày tháng, đây gọi là phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát; nếu như vì không cung kính, lười biếng, nhút nhát mà không cúng dường, thì cũng gọi là phạm nhiễm ô; nếu như vì lầm lẫn, lơ đãng mà vi phạm, thì gọi là phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: hoặc thần kinh thác loạn; hoặc đã chứng nhập sơ địa, thường không vi phạm, vì các Bồ tát chứng nhập sơ địa, cũng giống như các tỳ kheo đã chứng sơ quả, đối với Tam bảo Phật pháp tăng, thường thường như pháp cúng dường, cung kính thừa sự.

Nếu như đã quy y Tam bảo, lại còn phát tâm Đại Bồ đề, thì tâm phải nên hướng về Tam bảo, mỗi ngày đều phải thân cận phụng sự Tam bảo, không để có một ngày gián đoạn, nếu không như vậy, tức thành vi phạm. Trong đây có ba phần:

            1/ Đối tượng để cúng dường: nghĩa là Phật, pháp, tăng. Đối với Đức Như Lai hoặc tháp miếu của Ngài, hoặc đối với Chánh pháp, hoặc Kinh điển ghi chép Chánh pháp, nghĩa là tạng Tố đát lãm (kinh), Ma đát lý ca (luận) của Bồ tát, hoặc đối với tăng già, nghĩa là chư vị Bồ tát đăng địa ở mười phương thế giới. Ở đây, “Như Lai”, tức là Phật tự tính thân (pháp thân), “tháp miếu”, tức là hình tượng của Ngài, “Chánh pháp”, tức là Diệt đế, Đạo đế, là pháp có thể chứng đắc, “Kinh điển”, tức là kinh, luận, v.v..., đây là pháp có thể giáo hóa chúng sinh, “Bồ tát tạng”, tức là pháp Đại thừa; “tăng già”, tức là các bậc thánh Bồ tát đã đăng địa; “đối với Đức Như Lai”, tức là đối với Đức Như Lai, hoặc tháp miếu của Ngài, chỉ cần một trong hai là được; “đối với Chánh pháp”, tức là đối với pháp có thể chứng đắc, hoặc pháp có thể giáo hóa, chỉ cần một trong hai là được; “tạng tố đát lãm, ma đát lý ca”, nghĩa là kinh, luận, v.v..., chỉ cần một trong hai là được; “đối với Đức Như Lai, hoặc đối với Chánh pháp, hoặc đối với tăng già”, nghĩa là đối với Tam bảo, tùy một Bảo mà cúng dường, tuy cúng dường một phần ít như vậy, cũng không vi phạm.

            2/ Vật cúng dường: tức là vật cúng dường cho Tam bảo, lớn nhỏ ít nhiều đều được. Ít nhất là lạy một lạy, hoặc đọc tụng một bài kệ bốn câu tán thán công đức chân thực của Phật pháp tăng, hoặc dùng một niệm tâm thanh tịnh tưởng niệm công đức chân thực của Tam bảo. Không nên xả bỏ ba việc cúng dường như vậy đối với Tam bảo; hoặc đối với một Bảo trong Tam bảo, đem cả ba việc mà tu cúng dường. “Tối thiểu đem thân cung kính lạy một lạy”, Trát Mục Tra Sớ nói: “Hoặc ngày hoặc đêm, giả như không thể rộng tu các phước đức, cùng các hạnh cúng dường, ít nhất phải đem thân cung kính lạy một lạy”. Do đem hương, hoa, v.v..., cúng dường, cho nên không phạm.

            3/ Thời gian cúng dường: nếu như bỏ phế một ngày một đêm không chịu tu tập những sự cúng dường như trên, có thể sinh khởi tội chướng, cho nên gọi là phạm, đi ngược với pháp hành của Bồ tát cho nên gọi là vi phạm.

“Nếu như đã chứng nhập sơ địa, thường không vi phạm”, nghĩa là do vì chứng nhập sơ địa, ví như các vị tỳ kheo đã chứng nhập sơ quả, thường thường dùng vật cúng dường thù thắng thừa sự cúng dường Phật pháp tăng, như vậy, các vị Bồ tát đã chứng nhập sơ địa, thường thường như pháp cúng dường Tam bảo, cho nên nhất định không có sự vi phạm như trên, chứ không có nghĩa là các vị Bồ tát đã chứng nhập Sơ địa, tuy không cúng dường cũng không vi phạm.

            Tội vi phạm này, nếu đối với học xứ, dùng tâm bất kính, lười biếng không tin, bỏ bê phóng dật mà vi phạm, thì gọi là vi phạm nhiễm ô, còn nếu lơ đãng nhầm lẫn mà vi phạm, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô. Lại nữa, Tân Sớ nói: “Do vì tham, sân, si, ngã mạn, v.v..., thì gọi là vi phạm nhiễm ô, còn như lười biếng lơ đãng, v.v..., mà không cúng dường thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.” Ngài Trác Long nói: “Sân, v.v..., là các tội nặng, cho nên gọi là vi phạm nhiễm ô, còn các tội lười biếng, v.v..., thuộc về tội nhẹ, xưa nay vốn thuộc về vi phạm không nhiễm ô, như phần sau sẽ nói, thế nhưng, ở đây vẫn kết tội vi phạm nhiễm ô, bởi vì bọn họ đi ngược với những việc căn bản quyết định phải làm.”

            Tân Sớ nói: “Những sự vi phạm này, có thể hủy hoại hạnh cúng dường rộng lớn vi diệu trong phần nhiếp thiện pháp mà phần trước đã nói đến.”

K2. Chướng ngại sự đối trị san tham (vi phạm thứ hai).

            Kệ nói: “Tâm chạy theo lòng tham không đáy”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có lòng tham cầu không biết hạn chế, đối với lợi dưỡng cung kính sinh lòng tham đắm không xả, đây gọi là phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát.

            Những trường hợp không phạm: tuy đã nỗ lực tinh tiến trừ diệt tâm tham, nhưng vì tập khí sâu nặng, vô minh che lấp, nên tâm tham vẫn còn tiếp tục hiện hành.

            Nghĩa là có sự tham muốn vô độ, hoặc không biết đủ, hoặc tâm tham muốn lợi dưỡng, cung kính, mê luyến không xả, đây là vi phạm nhiễm ô. Tội này có những trường hợp vi phạm không nhiễm ô.

            Nếu như vì muốn đoạn trừ tâm tham muốn, phát khởi sự tinh tiến, tìm cách đối trị, tuy tìm cách ngăn chặn, nhưng vì tập nhiễm sâu nặng che chướng, tâm tham vẫn thường hiện hành, trong trường hợp này không phạm, nhưng không phải là không có lỗi.

            Tân Sớ nói: “Những sự vi phạm này có thể hủy hoại sự ít muốn biết đủ, cùng sự không tham cầu danh lợi cung kính trong giới luật nghi.

K3. Chướng ngại vô úy thí. Có hai sự vi phạm:
L1. Đối với thắng cảnh (vi phạm thứ ba).

            Kệ nói: “Không kính bậc lão thành, có đức”

Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thấy các vị đồng giới Bồ tát có đức hạnh, khả kính đến, nhưng vì bị tâm kiêu mạn khống chế, hoặc trong lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, không chịu đứng dậy chào hỏi, không nhường chỗ ngồi;
           
Nghĩa là Bồ tát thấy các vị đồng pháp, (1) hoặc là người trì giới, hoặc là người giới lạp cao hơn mình, (2) hoặc có những công đức chân thực khả tín, đối với hai đối tượng (1) và (2) này, có thể học hỏi đạo pháp, do đó, đối với các vị ấy phải nên sinh tâm kính trọng, tin tưởng. Nếu không đứng dậy nghênh đón, không nhường chỗ ngồi, đây là vi phạm.

L2. Đối với hằng cảnh (vi phạm thứ tư).

            Kệ nói: “Người đến hỏi, làm lơ không đáp”

            Giới văn (tiếp): hoặc nếu họ tới đàm luận, an ủi, hỏi han, nhưng vì bị tâm kiêu mạn khống chế, hoặc trong lòng hiềm hận, không chịu trả lời một cách lễ độ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát. Nếu như không phải vì bị tâm kiêu mạn khống chế, không có tâm hiềm hận, mà chỉ vì lười biếng, lơ đãng, hoặc đang ở trong trạng thái vô ký, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: đang bị bệnh nặng; hoặc thần kinh thác loạn; hoặc đang ngủ mà đối phương tưởng là đang thức, cho nên đến đàm luận, an ủi, hỏi han; hoặc đang vì người khác giảng nói, biện biệt nghĩa lý Phật pháp; hoặc đang cùng người khác đàm luận, hỏi han; hoặc đang lắng nghe người khác thảo luận, biện biệt nghĩa lý Phật pháp; hoặc sợ sự trả lời của mình sẽ xúc phạm người đang giảng pháp; hoặc muốn giữ ý cho người đang giảng pháp; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, làm cho họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn; hoặc muốn giữ ý cho đại chúng. Trong những trường hợp này đều không phạm.

            Nếu có người đến hỏi han, hoặc vì họ muốn làm mình vui lòng bèn đến hỏi thăm trò chuyện, hoặc vì hỏi thăm bệnh tình, hàn huyên an ủi, hoặc vì hỏi nghĩa lý, nhẫn đến tỏ lời thỉnh cầu, nếu như đối với những lời hỏi han, thỉnh cầu như vậy, không chịu giải đáp hợp lý, thỏa đáng, đây gọi là vi phạm. Nói “hợp lý”, có chú sớ giải thích là “không vì tham lợi dưỡng cung kính mà giải đáp”, còn Tân Sớ giải thích là: “tùy thuận chánh pháp mà giải đáp”, câu trả lời sau thỏa đáng hơn.

            Những trường hợp không phạm như sau: Đối với hai đối tượng trên, <a> hoặc nhân vì tự thân: (1) có bệnh nặng, (2) đang ngủ nghỉ, mà người khác tưởng là đang thức bèn đến hỏi han, đàm luận, an ủi, thưa hỏi, tuy không cung kính, hoặc không trả lời, cũng không vi phạm, <b> hoặc nhân vì hoàn cảnh: (1) đang giảng pháp cho người khác nghe, hoặc đang thảo luận đối đáp với người khác, (2) ngoài hai đối tượng vừa nêu trên, trong lúc đang cùng những người khác nói năng, bàn luận, an ủi, (3) hoặc đang lắng nghe người khác nói pháp, hoặc đang lắng nghe người khác thảo luận, đối đáp, tuy không biểu lộ cung kính, hoặc không trả lời, cũng không vi phạm, <c> hoặc nhân vì tùy nghi: (1) nhân vì e rằng đứng dậy chào đón làm chướng ngại người khác nghe pháp, làm cho họ buồn bực, (2) vì không muốn làm cho người thuyết pháp khởi tâm buồn phiền, (3) vì muốn dùng sự không đứng dậy chào đón làm phương tiện để điều phục đối phương, làm cho họ xa lìa pháp ác, tu tập pháp lành, (4) vì hộ trì quy chế của tăng đoàn cho nên không đứng dậy lễ bái, nói năng, ..., (5) vì muốn phòng ngừa sự hiềm hận của nhiều người cho nên không lễ bái, nói năng. Tuy không biểu lộ sự cung kính, trả lời, cũng không vi phạm.

Ngoại trừ những duyên vừa nêu trên, nếu như vì tâm kiêu mạn, hoặc dùng tâm hiềm hận muốn tổn thương đối phương, hoặc dùng tâm giận hờn, muốn làm đối phương phiền não, mà không chào đón, v.v..., thì gọi là vi phạm nhiễm ô, còn như vì lười biếng, nhút nhát, lơ đễnh, vô ký, v.v... mà phạm, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.

Tân Sơù nói: “Hai sự vi phạm này, có thể phá hoại sự hộ trì tâm của người khác trong giới nhiêu ích hữu tình.”

K4. Chướng ngại sự bố thí của người khác. Có hai phần:
L1. Không nhận sự mời thỉnh (vi phạm thứ năm).

            Kệ nói: “Không nhận lời mời của người khác”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có người đến mời thỉnh, hoặc đến nhà họ, hoặc đến chùa khác, để cúng dường thức ăn, quần áo, cùng những vật dụng cần thiết, nhưng vì bị tâm kiêu mạn khống chế, trong lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, nên không chịu đi ứng cúng, không nhận lời mời, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, lơ đãng, hoặc đang ở trong trạng thái vô ký mà không đi ứng cúng, không nhận lời mời, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: đang có bệnh, hoặc không có sức lực, hoặc thần kinh thác loạn; hoặc chỗ thỉnh ở quá xa; hoặc đường có nhiều hiểm nạn; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, làm cho họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành; hoặc trước đó đã nhận lời mời ở nơi khác; hoặc đang tu tập các pháp thiện, muốn giữ cho công phu tu tập không bị gián đoạn; hoặc đang muốn chứng đắc những pháp chưa từng có; hoặc không muốn những pháp nghĩa đã nghe không bị thoái sụt ---- các trường hợp luận nghị, biện biệt nghĩa lý Phật pháp, cũng giống như trường hợp nghe pháp; hoặc biết đối phương ôm lòng mưu hại, giả vờ đến mời thỉnh; hoặc không muốn làm nhiều người khác tị hiềm; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn, không đến nơi thỉnh, không nhận lời mời, thảy đều không phạm.

            Giả như có người, hoặc xuất gia, hoặc tại gia, mời đến chùa họ, hoặc đến nhà họ, phụng hiến bố thí thức ăn uống, cùng các vật dụng cần thiết như y phục, v.v..., nếu như Bồ tát vì tâm kiêu mạn, hoặc tâm hiềm hận, hoặc cố ý muốn làm đối phương phiền não, bèn không đi ứng cúng, hoặc không nhận lời mời, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu như vì lười biếng nhút nhát mà không đi ứng cúng, không nhận lời mời, thì vi phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: <a> nhân vì tự thân: (1) hoặc đang bị bệnh, không có sức lực, (2) trước đã nhận lời mời của người khác, tuy không đi ứng cúng cũng không vi phạm, <b> nhân vì đường xá nguy hiểm, có giặc cướp, thú dữ, rắn độc, v.v..., <c> nhân vì thí chủ: biết đối phương có tâm hãm hại, giả vờ mời thỉnh, tuy không đi ứng cúng, cũng không vi phạm, <d> nhân vì tùy nghi: (1) dùng sự không đi ứng cúng làm phương tiện điều phục đối phương, (2) hoặc đang tu thiện pháp không thể gián đoạn, không muốn tạm thời bỏ phế công phu, (3) vì muốn dẫn nhiếp những pháp nghĩa chưa từng nghe, hoặc không muốn những pháp nghĩa đã nghe bị thoái sụt, (4) như trường hợp nghe pháp, các trường hợp luận nghị, biện biệt nghĩa lý của pháp cũng giống như vậy, (5) vì không muốn người khác tỵ hiềm, (6) hoặc hộ trì quy chế của tăng đoàn, như úp bát, v.v..., tuy không đến nơi thỉnh, cũng không vi phạm.

L2. Không nhận đồ vật cúng dường (vi phạm thứ sáu).

            Kệ nói: “Người cúng tài vật, không thèm nhận”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có người ân cần cung kính, đem đến các loại vàng bạc, tiền tài, các món vật quý đến cúng dường, nhưng Bồ tát vì tâm hiềm hận, giận dữ, bực dọc, cự tuyệt không chịu thọ nhận, đây gọi là phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát, bởi vì đã xả bỏ chúng sinh; nếu vì lười biếng, nhút nhát, đãng trí, hoặc đang ở trong trạng thái vô ký mà cự tuyệt không thọ nhận, thì gọi là phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: hoặc biết sau khi thọ nhận, mình sẽ sinh tâm tham luyến; hoặc biết sau đó thí chủ sẽ sinh tâm hối tiếc; hoặc sau đó thí chủ sẽ phát cuồng; hoặc biết nếu nhận vật bố thí, thí chủ sẽ trở nên nghèo khổ; hoặc biết vật bố thí là vật của Tăng, hoặc vật của tháp miếu; hoặc biết vật bố thí là vật trộm cắp; hoặc biết vật bố thí sẽ đem lại nhiều phiền hà cho mình, như bị giết, bị giam, bị phạt, bị trục xuất, hoặc bị người khác hiềm nghi, quở trách. Trong những trường hợp này cự tuyệt không thọ nhận, đều không vi phạm.

            Giả sử có thí chủ, ân cần cung kính đem đến các loại vàng bạc, tiền tài, các món vật quý đến cúng dường, nhưng Bồ tát vì tâm hiềm hận, giận dữ, bực dọc, cự tuyệt không chịu thọ nhận, đây là vi phạm nhiễm ô, bởi vì đã xả bỏ chúng sinh. Nếu vì lười biếng, nhút nhát mà cự tuyệt không thọ, thì vi phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: <a> quán sát chính mình: biết là sau khi thọ nhận, sẽ sinh tâm đắm nhiễm, tuy cự tuyệt không thọ nhận cũng không vi phạm; <b> đối với thí chủ: (1) e rằng sau khi bố thí xong, họ sẽ hối tiếc, (2) biết thí chủ sau khi bố thí, tâm sẽ mê loạn, (3) biết thí chủ tuy sẵn lòng bố thí tất cả, nếu như thọ nhận, họ sẽ trở nên nghèo khổ, tuy cự tuyệt không nhận, cũng không vi phạm; <c> đối với vật bố thí: (1) biết vật bố thí là vật của tăng già, hoặc là vật của tốt đỗ ba (Phật và pháp), (2) biết vật bố thí là vật bị cướp đoạt, nếu thọ nhận sẽ bị nhiều khổ lụy, như bị giết, bị trói, bị xử phạt, bị hiềm nghi, hoặc bị các hình phạt như móc mắt, v.v..., tuy cự tuyệt không thọ nhận cũng không vi phạm.

Ngài Tối Thắng Tử nói: “Đoạn trên là nói đến các phiền lụy của người thọ nhận”. Trát Mục Tra Sớ nói: “Quán xét đồ vật bị cướp đoạt đem đến những sự phiền lụy như vậy, cho nên cự tuyệt không nhận.”

Tân Sớ nói: “Hai sự vi phạm này, có thể phá hoại sự làm phước điền cho người khác trong giới Nhiêu ích hữu tình.”

K5. Chướng ngại pháp thí (vi phạm thứ bảy).

            Kệ nói: “Người đến cầu pháp, không bố thí”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, có người đến cầu pháp, nhưng Bồ tát vì tâm hiềm hận, giận dữ, bực dọc, ganh tị, không chịu nói pháp, đây gọi là phạm nhiễm ô học xứ của Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát, lơ đãng, hoặc tâm đang ở trong trạng thái vô ký mà không chịu nói pháp, thì gọi là phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: ngoại đạo đến tìm khuyết điểm; hoặc đang bị bệnh nặng; hoặc thần kinh thác loạn; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, làm cho họ xa lìa nẻo ác, quay về đường lành; hoặc đối với pháp học chưa được thấu suốt; hoặc đối phương có thái độ không cung kính, không biết hổ thẹn, đến với thái độ ngang ngược, xấc láo; hoặc biết đối phương là người ám độn, đối với Phật pháp rộng lớn cứu cánh, hoặc sinh lòng sợ hãi, hoặc sinh khởi hoặc tăng trưởng tà kiến, chấp trước; hoặc biết sau khi nghe pháp xong, sẽ đem nói lại cho kẻ ác, do đây không nói pháp. Trong những trường hợp này đều không phạm.

            Giả sử có người đến cầu pháp, mà lại ôm lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, ganh ghét, bèn không bố thí pháp, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu do vì lười biếng, nhút nhát mà không bố thí pháp, thì vi phạm không nhiễm ô.

            Những trường hợp không phạm: <a> nhân vì tự thân: (1) hoặc đang có bệnh nặng, (2) hoặc đối với pháp học chưa được thông suốt, tuy không bố thí cũng không vi phạm, <b> nhân vì tùy nghi: nghĩa là dùng sự không bố thí pháp, v.v..., làm phương tiện để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua, tuy không bố thí pháp, cũng không vi phạm.

            Đối tượng để điều phục: Có bốn loại “phi khí” (không phải căn cơ cho sự bố thí pháp): (1) ngoại đạo, đến tìm lỗi lầm, khuyết điểm, (2) người không có tâm cung kính, lời nói không thành thực, đến nghe pháp với thái độ ngông nghênh, vô lễ, (3) người độn căn, căn cơ chưa thành thục (trình độ chưa đủ), đối với giáo pháp rộng lớn, nghe rồi không thể thọ trì, sinh lòng sợ hãi, không khởi lòng tin hiểu, sẽ sinh khởi tà kiến, mặc dù khéo léo dẫn dụ, họ cũng không chịu nghe nhận, trái lại tăng trưởng tà chấp, do nhân duyên này, đưa đến nhiều điều bất hạnh, tăng trưởng sự suy tổn, lại do nhân duyên đó, sẽ bị đọa vào ác đạo, (4) biết đối phương nghe xong, nói lại cho “phi khí”.

            Lại nữa, trong bốn loại này, (1) người đến tìm lỗi lầm, khuyết điểm, không chỉ riêng gì ngoại đạo, mà cũng có ý ám chỉ những người khác, (2) tùy một trong các sự không cung kính, là đủ để cự tuyệt không bố thí pháp, (3) không cần phải đủ các điều kiện mà ở đây đề cập đến.

            Bảy điều vi phạm vừa nói trên đây, sự vi phạm thứ hai, là điều không nên làm mà lại làm, còn sáu điều còn lại, là điều nên làm mà lại không làm.

            Lại phải nên biết, điều vi phạm thứ hai, do lực tăng thượng của tất cả bạn ác, trong tất cả mọi thời, trong tất cả mọi nơi, nhân duyên phạm giới hiện tiền, cho nên phải cẩn thận đề phòng, khéo giữ tâm mình.

            Tân Sớ nói: “Những tội vi phạm này, có thể chướng ngại thiện pháp giới, và chướng ngại hạnh bố thí trong Nhiêu ích hữu tình giới.”

J2. Chướng ngại trì giới. Có hai phần:
K1. Chướng ngại sự lợi tha. Có hai phần:
L1. Chánh chướng giới lợi tha. Có ba phần:
M1. Bỏ phế người đáng thương xót (vi phạm thứ tám).

            Kệ nói: “Bỏ rơi, không giúp người phá giới”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, đối với chúng sinh hung ác, phạm giới, sinh lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, bèn bỏ rơi, không chịu làm lợi ích cho họ, đây gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát; nếu vì lười biếng, nhút nhát mà bỏ rơi, thì gọi là vi phạm không nhiễm ô. Vì sao? Vì các Bồ tát khởi lòng thương xót, muốn làm lợi ích cho những chúng sinh bạo ác, phạm giới, gây tạo nhân khổ, hơn là những chúng sinh trì giới, ba nghiệp thanh tịnh.

            Những trường hợp không phạm: thần kinh thác loạn; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đã nói qua; hoặc muốn giữ ý cho đại chúng; hoặc tuân theo quy chế của tăng đoàn mà bỏ rơi, không làm lợi ích. Trong những trường hợp này đều không phạm.

            Đối với các hữu tình bạo ác, phá giới, ôm lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, lấy lý do là đối phương bạo ác, phạm giới, bèn tìm cách bỏ rơi, không chịu giúp đỡ, không chịu làm lợi ích cho họ, đây là vi phạm nhiễm ô. Nếu do vì lười biếng, nhút nhát mà bỏ rơi, hoặc do vì lơ đãng mà không làm lợi ích cho họ, đây là vi phạm không nhiễm ô. Vì sao? Vì chư Bồ tát đối với các hữu tình bạo ác, phạm giới, tạo nhiều khổ nhân, phải nên khởi lòng thương xót, muốn giúp đỡ, làm lợi ích, chứ không phải đối với các hữu tình trì giới thanh tịnh, thân khẩu ý nghiệp tịch tĩnh hiện hành, mà khởi tâm thương xót, muốn giúp đỡ, làm lợi ích.

            Nói “bạo ác”, nghĩa là tạo tác các tội vô gián, v.v..., nói “phạm giới”, nghĩa là hủy phạm giới căn bản. Trát Mục Tra Sớ nói: “Người trước tâm nhiều sân hận, người sau không chịu trì giới.”

            Những trường hợp không phạm: <a> nhân vì tùy nghi: (1) vì muốn dùng phương tiện này điều phục đối phương, (2) vì muốn giữ ý cho nhiều người khác, <b> hộ trì quy chế của tăng đoàn, tuy xả bỏ những người đó, cũng không vi phạm.

M2. Không học những điều giới chung với Thanh văn (vi phạm thứ chín).

            Kệ nói: “Không cùng tu học, làm người tin”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, như Đức Thế Tôn vì muốn làm cho các chúng sinh chưa có lòng tin đối với Phật pháp sinh khởi lòng tin, đã có lòng tin làm cho tăng trưởng, cho nên trong giới biệt giải thoát chế định giá tội, khiến cho các Thanh văn không được vi phạm, đối với những điều giới này, Bồ tát phải nên cùng học với Thanh văn, hoàn toàn không khác biệt. Vì sao? Như hàng Thanh văn chỉ vì tự lợi, còn không phế bỏ những hạnh lợi ích khác, mà học các điều giới này, làm cho chúng sinh chưa có lòng tin sanh khởi lòng tin, đã có lòng tin làm cho tăng trưởng, huống chi Bồ tát là những người mong cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sinh.

            Đức Bạc Già Phạm trong Biệt Giải Thoát Kinh, Tỳ Nại Da Luật, ngoài những điều tính tội, vì muốn hộ trì các hành giả Thanh văn, cho nên thiết lập giá tội, chế định các học xứ, trong đây chư Bồ tát cùng với các hành giả Thanh văn đều phải tu học, không có sự khác biệt, nghĩa là những điều mà chư Thanh văn phải xa lìa, thì chư Bồ tát cũng phải xa lìa. Hộ trì tín tâm của chúng sinh, nghĩa là làm cho hàng tại gia chưa có lòng tin thanh tịnh, sinh khởi lòng tin thanh tịnh, đã có lòng tin thanh tịnh, làm cho tăng trưởng. Ví như chế định các tỳ kheo không được uống rượu, không ăn phi thời, nhẫn đến các điều giới như không được đào đất, đốt lửa, v.v..., thì hàng Bồ tát phải nên cùng học với Thanh văn, hoàn toàn không khác biệt. Nếu không như vậy, không những vi phạm giới biệt giải thoát, mà còn vi phạm Bồ tát tịnh giới. Vì sao? Vì hàng Thanh văn chuyên tâm tự lợi, mà còn không xả bỏ việc hộ trì tín tâm của chúng sinh, huống chi là hàng Bồ tát chuyên tâm làm lợi người. Như Tân Sớ nói: “Nếu đối với điều giới này, không kính trọng, không tin tưởng, không tu học, đây là vi phạm nhiễm ô; nếu do vì lười biếng, nhút nhát mà không tu học, thì vi phạm không nhiễm ô.”

            Hỏi: Sự vi phạm như vậy, là Bồ tát tại gia phạm, hay là Bồ tát xuất gia phạm?

            Trả lời: Như Tân Sớ nói, đây là điều giới của Bồ tát xuất gia, thế nhưng trong các điều giới, cũng có nhiều điều tương tự với giới biệt giải thoát chế riêng cho hàng Bồ tát tại gia.

M3. Tu học giới không cùng chung với Thanh văn (vi phạm thứ mười).

            Kệ nói: “Ít lo lắng đến việc lợi người”

            Giới văn: Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, như Đức Như Lai trong giới biệt giải thoát, vì muốn hàng Thanh văn an trụ trong hoàn cảnh ít việc, ít làm, ít hy vọng, cho nên chế định các giá giới, khiến cho hàng Thanh văn không được vi phạm; đối với những điều giới này, Bồ tát không nên cùng học với Thanh văn. Vì sao? Vì hàng Thanh văn chuyên lo tự lợi, không nghĩ đến việc lợi người. Vì không lợi người cho nên các pháp ít việc, ít làm, ít hy vọng có thể gọi là thích hợp với họ, thế nhưng, đối với Bồ tát là những kẻ chuyên làm lợi người, không nghĩ đến việc lợi mình, thì các pháp ít việc, ít làm, ít hy vọng này, không thích hợp với họ.

            Như vậy, Bồ tát vì muốn lợi người, có thể từ các trưởng giả, cư sĩ, bà la môn không phải bà con mình, hỏi xin trăm ngàn loại quần áo; Bồ tát nên quán xét người cho xem họ có đủ khả năng bố thí hay không, tùy sức của họ bố thí mà thọ nhận; hỏi xin bình bát cũng giống như trường hợp xin quần áo. Tương tự như thế, Bồ tát có thể cầu xin chỉ dệt, nhờ thợ dệt không phải bà con mình dệt thành vải vóc để may quần áo; vì muốn lợi ích người khác nên may các loại y “kiêu xà gia”, hoặc làm tọa cụ, nhiều đến hàng trăm, hoặc giả, cất chứa vàng bạc, tiền mặt, nhiều đến vạn ức, hoặc nhiều hơn thế. Như vậy các pháp giá tội chế định ít việc, ít làm, ít hy vọng, Bồ tát sẽ không cùng học với Thanh văn.

            Nếu Bồ tát, thọ trì giới luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, trong việc lợi người, ôm lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc mà tuân thủ các pháp ít việc, ít làm, ít hy vọng này, thì gọi là vi phạm nhiễm ô học xứ Bồ tát.

            Đức Thế Tôn, vì muốn cho hàng Thanh văn ít việc, ít làm, sống ít hy vọng, cho nên kiến lập các giá tội, chẳng hạn như các việc: cho hạn mười ngày để may y, cho một tháng được phép cất chứa vải vụn để may xong y, v.v..., những điều giới như vậy, chư Bồ tát không cần phải cùng học với Thanh văn, nếu như học chung với Thanh văn, đây gọi là vi phạm.

            Lại nữa, đối với việc lợi tha, ôm lòng hiềm hận, giận dữ, bực dọc, bèn an trụ trong pháp ít việc, ít làm, sống ít hy vọng, đây là vi phạm nhiễm ô, nếu do vì lười biếng, nhút nhát, mà an trụ trong các pháp ấy, đây là vi phạm không nhiễm ô. Vì sao? Vì chư Thanh văn, chuyên tâm tự lợi, chỉ lo tự điều phục, không màng đến việc lợi tha, đối với việc lợi tha, ít việc, ít làm, sống ít hy vọng. Đến như chư Bồ tát, chuyên tâm lợi tha, đối với tất cả sự việc, chuyên vì lợi ích tất cả hữu tình, bởi thế, không phải đối với việc lợi tha, lại an trụ trong pháp ít việc, ít làm, sống ít hy vọng, mà gọi là diệu.

            Nói “ít việc”, nghĩa là ít mong cầu, nói “ít làm”, nghĩa là không tích chứa nhiều của cải riêng tư, nói “sống ít hy vọng”, nghĩa là sống đời sống của “dòng dõi thánh”; nói “dòng dõi thánh”, nghĩa là thỏa mãn với đời sống cực kỳ giản đơn, đạm bạc, y phục, ngọa cụ đều là hạng xấu nhất, an vui tinh tiến tu tập đoạn trừ phiền não, đây gọi là bốn thánh chủng.

            Vị Bồ tát như vậy, vì muốn lợi tha, từ những vị trưởng giả, cư sĩ, bà la môn, v.v..., không phải thân thuộc của mình, cùng các đại thí chủ, nên cầu xin trăm ngàn loại quần áo, quán sát thí chủ có đủ khả năng hay không, tùy họ bố thí ít nhiều, tất cả đều thọ nhận. Tát Mục Trát Sớ nói: “Phải nên biết rõ là thí chủ có thể kham nhẫn hay không?” Ở đây có ý muốn nói, sau khi thọ nhận, thí chủ trở thành nghèo túng hay không? Hoặc có bị người khác chê trách, hiềm nghi hay không? Nếu nói như vậy là không hợp lý, bởi vì nếu cầu xin hợp lý, tuy là cầu xin rất nhiều, cũng không vi phạm. Tương tự như việc cầu xin y phục, cầu xin bình bát, cầu xin chỉ sợi rồi thỉnh thợ dệt không phải thân thuộc của mình dệt thành y phục, cũng không vi phạm. Như Luận Du Giaø nói: “Thỉnh thợ dệt không phải thân thuộc của mình dệt thành y phục, tuy không trả tiền công, cũng không vi phạm.” Trong Tỳ nại da, trái lại, cho rằng nếu không trả tiền công, thì gọi là phạm.

            Vì muốn lợi ích người khác, nên tích chứa các loại y kiêu thế gia , tọa cụ, ngọa cụ, số lượng đến trăm, ngàn; vàng bạc, tiền mặt, nhiều đến trăm ngàn ức, hoặc còn nhiều hơn thế, cũng nên cất chứa. Ngài Tối Thắng Tử nói: “Nói ngọa cụ, nghĩa là ở trong có tơ vụn, còn tọa cụ, nghĩa là ở trong có lông thú mềm.” Vì muốn lợi tha, cho nên cho phép mặc y kiêu thế gia, cho phép dùng tơ vụn, lông thú mềm, cùng với vật dụng do tơ và lông hợp lại chế thành.

            Như vậy, Bồ tát vì muốn thực thi những sự việc này, đối với các pháp ít sự việc, ít tạo tác, sống ít hy vọng này, không nên cùng học với Thanh văn.

            Phần trên vừa nói đến hai loại giá tội, cùng phần dưới nói về các tính tội, là muốn đề cập đến các vị Bồ tát xuất gia học tập giáo giới biệt giải thoát căn bổn. Giới biệt giải thoát có hai loại chế định, (1) chế định tính tội, (2) chế định giá tội. Nghi quỹ tu học tính tội sẽ được đề cập ở phần sau.

            Ở đây nói về giá tội, cũng có hai loại: (1) Vì muốn hộ trì tín tâm của người khác, cho nên chế định tội này, như Tân Sơù nói: “Các vị tỳ kheo, quyết định thọ trì học xứ của mình, huống chi là Bồ tát, vì muốn làm lợi ích cho người khác, càng phải nên học”, nghĩa là các Bồ tát hộ trì tín tâm của chúng sinh, còn mạnh hơn Thanh văn. (2) Vì muốn hàng Thanh văn ít sự việc, ít tạo tác, sống ít hy vọng, cho nên Thế Tôn chế định giá tội này; còn chư Bồ tát vì muốn lợi ích chúng sinh, không bị hạn chế bởi các điều giới này, cho nên không cần cùng học với Thanh văn. Những điều tính giới được bàn ở phía sau, cùng hai điều giới này, có thể bao quát tất cả giới biệt giải thoát.

            Hoặc có người vì chưa hiểu rõ những giới tướng này, nói lời cuồng vọng như sau: “Tôi là Bồ tát, tôi là hành giả trì minh, tuy vi phạm giới luật, nhưng tôi có giới luật Mật thừa tối thắng, cho nên được phép phóng dật.” Người nói như vậy, tuy có đầy đủ hai loại giới trên (Bồ tát giới, Mật thừa giới), đã vượt quá quy chế của Bồ tát, phạm tội cực nặng, và cũng phạm thô tội (thâu lan giá) của tịnh giới Mật thừa. Như kệ có nói:

            Đối với hai giới dưới ,
            Không nên phạm mà phạm,
            Phạm tội thâu lan giá.

            Nếu như không phòng hộ hai loại giới này, mà tự cho mình là hành giả Đại thừa, như vậy pháp Đại thừa nương tựa chỗ nào? Đây là tự mình dùng nước vọng tưởng làm nhớp bẩn thánh giáo của Đức Phật. Các hành giả cầu pháp, phải nên xả bỏ ác kiến như vậy, như ném bỏ thuốc độc. Như Cựu Sơù nói: “Nếu chư tỳ kheo, từ các vị trưởng giả, cư sĩ, hoặc vợ của trưởng giả không phải thân thuộc, cầu xin y phục, phạm tội xả đọa.” Nên biết hành giả an trụ trong hai loại giới Bồ tát và biệt giải thoát, đối với học xứ này, nếu vì lợi người thì được khai duyên, còn nếu vì tự lợi thì sẽ bị cấm đoán. Những tội vừa nói ở trên, nếu chỉ vì tự lợi, không phải vì lợi tha, mà tự cho phép làm, nên biết vẫn bị phạm vào các tội đã được nói đến trong Tỳ nại da.

            Tân Sớ nói: “Ba sự vi phạm này, theo thứ tự, có thể hủy hoại nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, và nhiêu ích hữu tình giới.”

 


Y kiêu thế gia: một loại y lông thú mềm.

Hai giới dưới, tức là Biệt giải thoát giới (Thanh văn) và Bồ tát giới.

Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006