TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

A Di Da

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận
 

 

Thượng sư Tsong Kha Pa tạo luận
Thang Hương Danh dịch Tạng Hán
Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt

 

Bồ Đề Chánh Đạo
Bồ Tát Giới Luận


Phần 7


H2. Hậu quả của sự phạm tội tha thắng.

            Bồ tát đối với tội tha thắng, chỉ cần phạm một tội, thì trong pháp tu hiện đời, không thể tích tập, không thể nhiếp thọ tư lương rộng lớn của Bồ tát, trong pháp tu hiện đời, không thể có niềm vui cùng ý thích thanh tịnh, huống hồ là phạm tất cả. Đây gọi là Bồ tát tương tự, chứ không phải Bồ tát chân thực.

            Ngài Đức Quang nói: “Tích tập có nghĩa là tăng trưởng, nhiếp thọ có nghĩa là sinh khởi.”

            Bộ sớ khác nói: “Không thể tích tập tư lương để chứng nhập Đại địa Bồ tát.”

            “Niềm vui cùng ý thích thanh tịnh”, các bộ sớ cho là chứng nhập Đại địa, tức là chứng nhập sơ địa.

            Nói tóm lại, đối với các tội tha thắng, chỉ cần phạm một tội, tức thì trong pháp tu hiện đời không thể chứng nhập sơ địa, nghĩa là tất cả tư lương rộng lớn, chuẩn bị cho việc chứng nhập sơ địa, đã tích tập trước kia, không thể tăng trưởng, còn các tư lương chưa tích tập thì không thể sinh khởi, huống chi là thường phạm tội tha thắng! Bởi thế không nên tái phạm tội tha thắng mới có thể nghĩ đến việc thọ lại giới Bồ tát. Đối với tội căn bản, chẳng thà xả bỏ thân mệnh chứ không vi phạm. Như Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

            Nếu như không quả quyết,
            Phát tâm, lại tạo ác,
            Lên xuống cõi luân hồi,
            Khó mà chứng đạo quả (Phẩm thứ tư, kệ 11)

            Nói về bốn pháp tha thắng, Luận Du Giaø và Học Tập Luận, đều có lập luận giống nhau. Hư Không Tạng Kinh cũng nói đến những lỗi lầm của các tội đó như sau: “Hành giả Đại thừa sơ cơ, nếu như phạm tội căn bản, thì tất cả thiện căn đã tu tập trước kia đều bị đốt sạch, đó là tha thắng xứ. Mất sự vui của người, trời cùng cảnh giới hỷ lạc của Đại thừa, đọa vào ác đạo, lưu chuyển sinh tử, xa lìa thiện tri thức.”

H3. Phân biệt ba loại phiền não phạm giới.

            Hỏi: Loại phiền não nào phạm giới, không gọi là mất giới? Loại phiền não nào phạm giới, gọi là mất giới?

            Trả lời: Bồ tát, nếu dùng tâm phiền não bậc hạ hoặc bậc trung, hủy phạm bốn tội tha thắng, thì không bị mất tịnh giới luật nghi của Bồ tát, còn như nếu dùng tâm phiền não bậc thượng hủy phạm bốn tội tha thắng, thì gọi là mất giới Bồ tát.

            Tội tha thắng, như phần trước đã nói, nếu là tội “ý nhạo (ưa thích)” thì có bốn loại, còn nếu là tội “gia hành” thì có tám loại, chẳng hạn như tham cầu lợi dưỡng cung kính, v.v..., nhẫn đến các tội được nói trong Học Tập Luận. Nếu như không phải phạm tội với tâm phiền não bậc thượng, thì không gọi là tội tha thắng. Trường hợp các tội khác, nên biết cũng tương tự như vậy. Còn nếu như tạm thời sinh khởi một niệm tà kiến, hoặc “hơi hơi” thoái thất tâm Bồ đề, thì phạm tội tha thắng, không cần phải khởi tâm phiền não bậc thượng, như phần trước đã nói qua.

            Hư Không Tạng Kinh nói đến các tội, nếu như không phải dùng tâm phiền não bậc thượng mà phạm, phải biết đó là phạm tội với tâm phiền não bậc hạ hoặc bậc trung. Luận Du Giaø, trong phần nói về các tội tha thắng, nếu như chưa phạm tội tha thắng, thì có thể gọi là phạm tội bậc trung hoặc bậc hạ.

            Phạm tội với tâm phiền não bậc thượng, có nghĩa là nếu Bồ tát (1) thường thường vi phạm bốn tội tha thắng, (2) hoàn toàn không biết hổ thẹn, (3) trong lòng cảm thấy vui thích, (4) cho là có công đức, nên biết đây gọi là phạm tội tha thắng với tâm phiền não bậc thượng. Điều này được chia làm bốn phần:

            1/ Thứ nhất: thường thường vi phạm bốn tội tha thắng.

“Bốn tội tha thắng”: như có sớ giải nói: “Điều này muốn nói là chỉ cần phạm một tội tha thắng, chứ không bắt buộc phải phạm cả bốn tội một lúc.”

“Thường thường vi phạm”: Tây tạng có pháp sư nói: “Đây là nói phạm hai lần trở lên”. Lại có pháp sư nói: “Đây cần phải có đủ ba giai đoạn: gia hành, chánh hành và chung hành”. Thế nhưng trong các bộ sớ khác không thấy nói đến điều này, mà ý nghĩa cũng không phải như thế, cho nên không thể y cứ. Ở đây có nghĩa là phạm xong một tội tha thắng, sau đó qua một đoạn thời gian, lại tiếp tục phạm thêm một tội tha thắng (có thể đồng loại hoặc khác loại), đây gọi là thường thường vi phạm. Như Tân Sớ nói: “Phiền não mãnh liệt, nghĩa là phiền não phát động xong, sau đó lại thường thường phát động không ngừng, chưa từng sinh khởi một niệm hổ thẹn.” Trát Mục Tra Sơù cũng nói: “Hoặc đối với bốn pháp tha thắng, hoặc đối với một pháp trong bốn pháp tha thắng này, trong những thời gian sau, thường thường mong muốn phát động.” Lại như, hai ngài Hải Vân và Tối Thắng Tử đều nói: “Do vì những pháp tha thắng như vậy thường thường phát động, có thể làm hủy hoại tất cả sự hổ thẹn, cho nên nói Chưa từng sinh khởi một niệm hổ thẹn.” Ở đây nói, do vì pháp tha thắng thường thường phát động, có thể hủy hoại sự hổ thẹn; ý nghĩa giống như hai ngài vừa nói. Lại có sớ giải nói: “Không có thời gian nhất định”. Phần sau sẽ nói tường tận.

2/ Thứ hai: hoàn toàn không có sự hổ thẹn.

Hổ thẹn, như Bồ Tát Địa nói: “Bồ tát lúc sắp sửa phạm tội, nếu như biết rõ đây là điều mình không nên làm, liền sinh hổ thẹn, đây gọi là tàm; hơn nữa, đối với việc ác, lo sợ bị người khác quở trách, liền sinh hổ thẹn, đây gọi là quý.”

Hai pháp này, cảnh sở duyên là hành vi ác của chính mình. Hành tướng của nó là sự hổ thẹn, còn sự phân biệt giữa hai pháp là: (i) nếu nghĩ rằng đây là điều mình không nên làm, nghĩ đến thân phận của chính mình mà khởi lòng hổ thẹn thì gọi là tàm, (ii) còn nếu như lo sợ người khác quở trách, nghĩ tưởng đến người chung quanh mà sinh lòng hổ thẹn thì gọi là quý. Như vậy, nếu phạm tội với tâm phiền não bậc thượng, bậc trung, nhẫn đến bậc hạ, đều không sinh khởi hai tâm như vậy, thì gọi là hoàn toàn không có sự hổ thẹn.

Tại sao hoàn toàn không sinh khởi sự hổ thẹn? Do vì sự phát động của các ác hành có khả năng làm phạm tội tha thắng, nghĩa là nếu phạm tội tha thắng thì hai tâm này hoàn toàn không sinh khởi, bởi vì nếu như có thể sinh khởi dù chút ít tâm hổ thẹn, thì không còn gọi là phạm tội tha thắng.

Như thế, hai tâm này lúc nào thì có thể sinh khởi, lúc nào thì không thể sinh khởi? Có người cho rằng tâm hổ thẹn sinh khởi hay không, là trong khoảng thời gian cố định mà các hành vi ác có khả năng phạm tội tha thắng phát động. Thế nhưng, điều này không hợp lý. Phần sau sẽ nói tường tận hơn.

3/ Thứ ba: trong lòng cảm thấy rất ưa thích.

Hai ngài Hải Vân và Tối Thắng Tử đều nói: “Do không có tâm tàm, cho nên sinh lòng ham ưa, nghĩa là vì không có tâm tàm, cho nên đối với các hành vi ác, sinh lòng ham ưa; hoặc vì không có tâm tàm và tâm quý, cho nên đối với hành vi ác khởi lòng ham ưa.” Trát Mục Tra Sớ nói: “Do không có tâm tàm quý, đối với tội ác, sinh lòng vui thích, cho nên gọi là ham ưa.” Đây có nghĩa là đối với các việc ác, không những không có tâm tàm quý, mà còn sinh khởi tâm ham ưa. Hai ngài Hải Vân và Tối Thắng Tử đều nói: “Ưa thích, có nghĩa là đối với các việc ác, phát động không ngừng (không chịu xả bỏ).”

Hỏi: Trong các phần này, phần đầu tiên là căn bản. Nếu không đầy đủ các phần sau, thì không gọi là đầy đủ các điều kiện của sự phạm tội với tâm phiền não bậc thượng. Cho nên phải thêm các phần phía sau. Thế nhưng trong phần thứ ba, trong lòng cảm thấy rất ưa thích, đối với các ác hành không chịu xả bỏ; không xả ác hành, tức là không có tàm quý, như vậy thì không cần phần thứ hai, cũng vẫn được gọi là phạm tội với tâm phiền não bậc thượng?

Trả lời: Trong đây nói: “Không xả các ác hành”, không phải là thấy lỗi lầm mà không xả bỏ, mà có nghĩa là vì ưa thích cho nên không xả bỏ. Như ngài Đức Quang Luận Sư nói: “Nói ưa thích (ái nhạo), “ái” có nghĩa là ham ưa, hết lòng ham muốn, còn “nhạo” là gia hành, an trụ trong sự việc đó.” Đây có nghĩa là: “có tâm ưa thích các ác hành gọi là ái, còn ưa thích làm các ác hành gọi là nhạo.” Nói như vậy, có vẻ phù hợp với bổn ý của Luận Du Già.

Hỏi: Nếu vậy, ắt sẽ trùng lặp với ý nghĩa “thường thường phát động”, nghĩa là muốn tiếp tục phát động ác hành, tức là thích làm ác hành.

Trả lời: Không có lỗi trùng lặp. Phía trên là sự mong cầu, còn phía dưới là sự vui thích. Hai tâm này có sự khác biệt.

4/ Thứ tư: cho là có công đức.

Hai ngài Hải Vân và Tối Thắng Tử đều nói: “Đối với các hành vi ác, không thấy lỗi lầm.”

Nếu nghĩ như vầy: “Nếu như thấy lỗi lầm, có thể sẽ sinh khởi tâm hổ thẹn, và như vậy, làm sao đối với tội ác mà có thể khởi tâm ưa thích?” Nên biết, điều này thực sự không có sự tương phản, nghĩa là thấy sự lỗi lầm, sinh khởi tâm hổ thẹn, đây là nhân của sự tàm quý, nhưng chưa phải thực sự tàm quý. Như vậy, tuy thấy được lỗi lầm của sự việc, nhưng vẫn ưa thích, theo đó mà làm. Cũng như trường hợp người trì giới làm việc phi phạm hạnh.

Trát Mục Tra Sớ giải thích ý nghĩa của hai chữ “ái nhạo”, chỉ là đảo ngược thứ tự của hai chữ mà nói. Còn các nghĩa khác cũng giống như trên.

Ngài Đức Quang Luận Sư nói: “Nếu đối với pháp tha thắng xứ đó, nghĩ là công đức, mà sinh tâm ưa thích, thì gọi là “cho là có công đức”. Đây không có nghĩa là pháp tha thắng xứ đó không có lỗi lầm. Như nói chữ “dục” trong “công đức của ngũ dục”, đây là dục (sự ham muốn) của ý, chứ không phải là thấy chỗ ý không muốn. Các bộ sớ giải khác đối với điều này, ý nghĩa cũng giống như ở đây.

Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận Sớ nói: “Thường thường, có nghĩa là vượt quá một khoảng thời gian cố định, không sinh khởi tâm hổ thẹn, vì không hổ thẹn nên không gián đoạn. Trong khoảng thời gian cố định, như Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: Nếu chư Bồ tát, lúc sáng sớm phạm giới, đến khoảng giữa trưa không xả bỏ tâm Bồ đề, đây gọi là giới thân của Bồ tát không bị hủy hoại. Tương tự, lúc giữa trưa phạm, đến khoảng xế chiều không xả bỏ tâm Bồ đề, lúc xế chiều phạm, đến khoảng đầu đêm không xả bỏ tâm Bồ đề, lúc đầu đêm phạm, đến khoảng nửa đêm không xả bỏ tâm Bồ đề, lúc nửa đêm phạm, đến khoảng cuối đêm không xả bỏ tâm Bồ đề, lúc cuối đêm phạm, đến khoảng sáng sớm hôm sau không xả bỏ tâm Bồ đề, thì gọi là giới thân của Bồ tát không hủy hoại. Như vậy, từ sáng sớm của ngày thứ nhất đến sáng sớm ngày thứ hai, ban ngày ba phần, ban đêm ba phần, một ngày một đêm có tổng cộng sáu phần.”

 Nếu y theo sự giải thích của cổ đức vừa nói ở trên, hai nghĩa (1) thường thường phát động và (2) không có hổ thẹn là một, như vậy, ắt sẽ tương phản với Luận đã liệt kê hai phần khác nhau.

Hơn nữa, nếu trong Luận đã nói các điều kiện, sau lại thêm vào “trong một khoảng thời gian cố định”, thì như thế, trong Bồ Tát Địa liệt kê các điều kiện để phạm tội với tâm phiền não bậc thượng lại không đầy đủ. Còn nếu để mặc bất cứ nhà chú giải nào cũng có thể tăng thêm điều kiện, thì số điều kiện có thể sẽ trở thành quá nhiều, đến vô cùng tận. Điều này cũng lại không hợp lý.

Như phần sau sẽ nói đến, việc thiết lập “trong khoảng thời gian cố định”, cũng không phải là bổn nghĩa của Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh. Kinh đó nói: “Ưu Ba Ly! Do ý nghĩa này, ta vì chư Bồ tát thuyết minh khai giới và giá giới, còn đối với Thanh văn chỉ thuyết minh giá giới. Này Ưu Ba Ly! Nếu chư Bồ tát phát tâm tu hành trong pháp Đại thừa, lúc sớm mai phạm giới, đến khoảng giữa trưa không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại; nếu lúc giữa trưa phạm giới, đến khoảng xế chiều không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại; nếu lúc xế chiều phạm giới, đến khoảng đầu đêm không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại; nếu lúc đầu đêm phạm giới, đến khoảng nửa đêm không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại; nếu lúc nửa đêm phạm giới, đến khoảng cuối đêm không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại; nếu lúc cuối đêm phạm giới, đến khoảng sớm mai không xả bỏ tâm Nhất thiết trí, thì giới thân của vị Bồ tát đó không bị hủy hoại. Này Ưu Ba Ly! Do ý nghĩa này, các vị hành giả Bồ tát thừa, thọ trì khai giới giá giới, giả sử nếu có phạm giới, không nên đánh mất niềm tin, sinh khởi ưu sầu hối hận một cách quá đáng, tự làm não loạn tâm mình. Còn như các hành giả Thanh văn thừa, nếu như phạm giới, tức là hủy hoại tịnh giới của Thanh văn. Vì sao? Vì hàng Thanh văn trì giới là để đoạn trừ phiền não, như cứu đầu đang bị cháy, lòng chỉ mong cầu chứng đắc Niết bàn, do ý nghĩa này, nên gọi là Thanh văn thừa chỉ thọ trì giá giới.” Trong đây nói lúc sớm mai phạm tội, tức là phạm tội căn bổn.

Hỏi: Làm sao biết đó là tội căn bổn?

Trả lời: Theo như câu trả lời trong kinh, hành giả Bồ tát thừa thọ trì khai giới giá giới, hành giả Thanh văn thừa chỉ thọ trì giá giới, lại nữa, ý nghĩa tổng quát của Kinh muốn nói: “Học xứ Bồ tát có thể khôi phục thanh tịnh, còn chỗ Thanh văn phạm, không thể khôi phục thanh tịnh.” Do đây nói đó là tội căn bổn, có nghĩa là trong Thanh văn thừa, ngoại trừ tội căn bổn ra, phạm các tội khác đều có thể khôi phục thanh tịnh, như vậy, pháp khôi phục thanh tịnh này, không phải chỉ riêng Bồ tát thừa mới có.

Hỏi: Nếu vậy, đã gọi là căn bổn tội, lại nói giới thân không hủy hoại, đây là phạm vào lỗi tương vi, bởi vì phạm giới tức là giới thân bị hủy hoại?

Trả lời: Không có lỗi tương vi. Như Học Tập Luận dẫn Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Giới thân vô biên”, nghĩa là nếu như trong giới luật của Bồ tát thừa, phạm tội căn bổn mà không thể thọ lại, thì đây tức là hữu biên (có giới hạn), là có lúc cùng tận. Thế nhưng, trong giới luật Bồ tát có thể thọ lại, cho nên gọi là vô biên.

Như phần trên nói về “trong một khoảng thời gian cố định”, ắt là trong khoảng thời gian đó phải nên khôi phục thanh tịnh. Như Kinh nói: “Lúc sớm mai phạm giới đến khoảng giữa trưa”, thế nhưng, khoảng thời gian giữa sớm mai và giữa trưa không phải là cố định; lại nữa, Luận chỉ nói là không có tâm hổ thẹn, cùng nói đến sự thấy lỗi lầm hoặc không thấy lỗi lầm, còn trong Kinh chỉ nói đến sự không xả bỏ tâm Bồ đề, cả hai đều không nói rằng có “một khoảng thời gian cố định”.

Hỏi: Nếu vậy, Đạo Cự Luận Sớ nói: “Sáu thời lại chia làm mười tám phần, buổi sớm mai có ba phần, trong hai phần đầu nếu phạm giới, trong phần sau nếu không quên Bồ đề tâm, thì không bị mất Bồ tát giới thể, năm thời sau cũng tương tự như vậy”, ý nghĩa phải nên giải thích như thế nào?

Trả lời: Nên biết đoạn văn này là chỉ tướng trạng của các đệ tử đầy đủ giới luật tu hành đạo hạnh, phía trước còn có một câu “xa lìa bạn ác, tu tập đúng thời “, nói “tu tập đúng thời”, nghĩa là trong sáu thời, mỗi thời chia làm ba phần, trong hai phần đầu, nếu có phạm giới, đến phần thứ ba, cần phải không được quên tâm Bồ đề, mà tu tập sự khôi phục thanh tịnh. Nếu không như vậy, ắt sẽ có sự tương phản với nghi quỹ tu hành khôi phục sự thanh tịnh của hành giả bậc hạ. Sớ văn cũng nói: “Hành giả bậc thượng có thể khôi phục thanh tịnh trong phần đầu, hành giả bậc trung khôi phục thanh tịnh ở phần thứ hai, còn hành giả bậc hạ đến phần thứ ba mới khôi phục thanh tịnh.” Nếu nói thêm nữa, bộ sớ này còn nói thêm năm mươi bốn nghi quỹ tu tập để khôi phục thanh tịnh, nghĩa là hành giả bậc thượng thượng ở phần đầu tiên của sát na, bậc thượng trung ở phần thứ hai của sát na, bậc thượng hạ ở phần thứ ba của sát na mới được khôi phục thanh tịnh. Trong đây nói nghi quỹ tu hành để khôi phục thanh tịnh, chứ không nói đến khoảng thời gian phạm tội tha thắng.

Hỏi: Nếu vậy, phạm tội căn bổn mà vẫn có thể khôi phục thanh tịnh, vậy giới này là Bồ tát giới? Hay là giới biệt giải thoát trong Bồ tát thừa? Nếu là Bồ tát giới, mà lại nói rằng “không xả bỏ nguyện tâm thì có thể khôi phục thanh tịnh”, điều này không hợp lý. Tuy đã xả bỏ nguyện tâm, nếu sau đó lại phát tâm, thì Bồ tát tịnh giới đã thọ trước kia, cũng có thể sinh khởi lại; còn nếu là giới biệt giải thoát trong Bồ tát thừa, các Kinh điển Đại Tiểu thừa phần lớn nói rằng tội tha thắng hủy phạm giới biệt giải thoát, sau đó dù có thọ lại cũng không thể nào sinh khởi lại giới biệt giải thoát đã thọ trước kia. Như vậy, nếu dùng lý do xả bỏ hay không xả bỏ nguyện tâm mà phân biệt tội phạm có thể khôi phục hay không, điều này có vẻ không hợp lý!

Trả lời: Ngài Tịch Thiên Bồ tát viện dẫn Kinh này, chứng minh uy lực của Bồ đề tâm có thể làm thanh tịnh các tội đã phạm. Ý của Kinh muốn nói, tuy là hủy phạm tội trọng căn bổn, nếu như không xả bỏ nguyện tâm, có thể khôi phục thanh tịnh. Tuy do vì hủy phạm tội trọng căn bổn, chướng ngại giới pháp sinh khởi trở lại, thế nhưng, lại do vì không xa lìa uy lực của Bồ đề tâm, cho nên có thể trừ khử những chướng ngại đó, do đây có thể chứng minh rằng điều ngài nói là giới biệt giải thoát trong Bồ tát thừa. Bởi vì, nếu là Bồ tát giới, thì tuy đã xả bỏ nguyện tâm, sau này vẫn có thể sinh khởi trở lại. Lại như phần trước đã dẫn Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Nếu như không quả quyết,
            Phát tâm, lại tạo ác,
            Lên xuống cõi luân hồi,
            Khó mà chứng đạo quả. (Phẩm thứ tư, kệ 11)

            Đây là nói đến hoạn nạn của sự xả bỏ Bồ đề tâm. Nói “không quả quyết”, có nghĩa là xả bỏ nguyện tâm. Nhập Bồ Tát Hành Luận còn nói: “Trong Bồ tát giới đọa, tội xả tâm nặng nhất”. Nói “Phát tâm, lại tạo ác, lên xuống cõi luân hồi”, có nghĩa là sau khi phạm tội căn bổn, lại có thể sinh khởi lại uy lực của nguyện tâm, do uy lực của nguyện tâm, lại có thể sinh khởi lại tịnh giới.

            Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Thế nào gọi là giới biệt giải thoát của Thanh văn thừa? Thế nào gọi là giới biệt giải thoát của Duyên giác thừa? Thế nào gọi là giới biệt giải thoát của Bồ tát thừa?” Đây là hỏi giới biệt giải thoát của Bồ tát, chứ không phải Bồ tát giới!

            Lại như, trong kinh, khi giải đáp giới biệt giải thoát của Đại Tiểu thừa nói: “Vì chư Bồ tát giảng nói khai giới, giá giới, vì chư Thanh văn chỉ nói giá giới.” Điều này phần trước đã nói tường tận, cho nên biết đây là giới biệt giải thoát trong Bồ tát thừa.

            Hỏi: Nếu vậy, không xả bỏ nguyện tâm, có thể khôi phục sự thanh tịnh, còn xả bỏ nguyện tâm thì không thể khôi phục sự thanh tịnh, sự khác nhau thế nào?

            Trả lời: Đây không có nghĩa là bất cứ người nào đầy đủ giới biệt giải thoát, phạm tội căn bản đều có thể khôi phục sự thanh tịnh, mà không có sự khác biệt. Nghĩa là vị Bồ tát đầy đủ giới biệt giải thoát, nếu phạm tội căn bổn của giới biệt giải thoát, sau khi phạm vẫn không hoàn toàn xả bỏ nguyện tâm đã phát trước kia, trong trường hợp này có thể thọ lại; còn như vị Bồ tát đó phạm tội căn bổn, trong ba thời: gia hành, chánh hành, hoặc chung hành, nếu xả bỏ nguyện tâm đã phát trước kia, thì trong trường hợp này ắt không thể thọ lại. Nếu nói trong trường hợp này vẫn có thể thọ lại, thì hành giả Tiểu thừa cũng có thể thọ lại, đây là một điều sai lầm to tát.

            Sớm mai, nghĩa là từ lúc mặt trời mới mọc cho đến khi mặt trời sắp đứng bóng, giữa trưa, là chỉ giới hạn thời gian cuối cùng của sự phạm giới. Như vậy, phạm tội căn bổn, sau đó nếu hoàn toàn không xả bỏ nguyện tâm đã phát, do uy lực của nguyện tâm, tội căn bổn này không thể chướng ngại sự sinh khởi trở lại của giới luật, còn nếu xả bỏ nguyện tâm, tức là không thể trừ khử được lực lượng chướng ngại đó, không thể khôi phục được sự thanh tịnh.

            Lại nữa, ngay trước khi phạm tội căn bổn, nếu xả bỏ nguyện tâm, thì không khôi phục được sự thanh tịnh, cho nên hành giả sau khi phạm tội, tuyệt nhiên không nên xả bỏ nguyện tâm. Mật ý của Kinh này khi nói rằng “không xả bỏ”, có nghĩa là không xả bỏ nguyện tâm đã từng phát trước kia, chứ không có nghĩa là lúc phạm giới vẫn chưa phát nguyện tâm.

            Phương Tiện Thiện Xảo Kinh nói: “Thiện nam tử! Ông nay nên biết, Bồ tát ma ha tát đầy đủ phương tiện thiện xảo, hoặc có lúc gặp ác tri thức dẫn dụ làm cho thoái thất tâm Vô thượng Bồ đề, phạm tội cực nặng. Bồ tát lúc đó nên suy ngẫm như thế này: Ta nay nếu như lập tức thủ chứng Niết bàn, không còn có thể mặc áo giáp tinh tiến, làm sao có thể độ thoát tất cả chúng sanh thoát khỏi sự khổ não của luân hồi. Ta nay không nên vì nhân duyên này mà hủy hoại tâm Vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì ta muốn ở trong luân hồi độ thoát tất cả chúng sanh. Dù có phạm tội cực nặng, cũng quyết không đoạn diệt thiện căn! Thiện nam tử! Đây gọi là phương tiện thiện xảo của Bồ tát ma ha tát. Lại nữa, nếu như có vị xuất gia Bồ tát, có tâm phân biệt, sinh khởi tác ý khác biệt, phạm bốn tội căn bổn, nếu như vị đó đầy đủ phương tiện thiện xảo, phải lập tức sám hối, ta nói vị Bồ tát đó là người vô tội.” Cho nên người phạm tội, phải là Bồ tát, mới có thể thọ lại; còn nếu là người trước đó đã thuộc về các Thừa khác, phạm tội căn bổn, sau đó dù có thọ giới làm Bồ tát, cũng không thể thọ lại giới biệt giải thoát.

            Hai Kinh trên đây đều là nói về giới biệt giải thoát trong Bồ tát thừa.

            Có người hiểu lầm ý nghĩa này, cho rằng giới biệt giải thoát trong Đại thừa, tuy phạm tội tha thắng, sau đó có thể thọ lại, sẽ đắc giới thể như trước kia. Phải biết chỉ có Bồ tát Đại thừa (trước đó đã thọ Bồ tát giới, sau đó phạm tội căn bổn của giới biệt giải thoát), mới có thể thọ lại, chứ không phải tất cả mọi người trong Đại thừa đều được như vậy.

            Lại nữa, Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói giới biệt giải thoát của Đại, Tiểu thừa có ba loại khác biệt: (1) “tận hình thọ giới” và “không phải tận hình thọ giới”, (2) “khai giới và giá giới” và “chỉ có giá giới”, (3) “thâm nhập giới” và “yếm ly giới”.

            Có người cho rằng “thâm nhập giới” tức là biệt giải thoát giới của Bồ tát thừa, sau khi chết vẫn không xả (không mất giới thể), cho nên gọi là thâm nhập. Điều này không đúng, bởi vì Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Bồ tát như vậy thành thục thiện căn, tất cả phiền não phải nên dần dần trừ tận, không nên trong một đời trừ tận các phiền não. Các hành giả Thanh văn, thành thục thiện căn, như cứu đầu đang bị cháy, nhẫn đến không khởi một niệm thọ thêm thân đời sau.” Như vậy, hai ý nghĩa thâm nhập và yếm ly, có nghĩa là từ phương diện thọ thêm thân đời sau hay không mà nói.

            Phần trên đã biện minh tường tận những ý nghĩa muốn nói. Dưới đây là nói về bốn nghĩa của sự phạm tội với ba phiền não.

            Hỏi: Trong phiền não bậc thượng có bốn phần: (1) hoàn toàn không có tâm hổ thẹn, (2) không thấy lỗi lầm, hai phần này thuộc về “giá thuyên”, (3) sau lại muốn phát động, (4) cảm thấy rất ưa thích, hai phần này thuộc về “biểu thuyên”. Những phần này phải bắt đầu phát khởi từ lúc nào đến lúc nào (nghĩa là trong khoảng thời gian nào)?

            Trả lời: (1) hoàn toàn không có tâm hổ thẹn, (2) không thấy lỗi lầm, hai phần giá thuyên này, từ lúc bắt đầu phát khởi, cho đến lúc chánh hành đầy đủ, thường không gián đoạn. Trong khoảng thời gian này, nếu khởi tâm hổ thẹn, hoặc nếu thấy được lỗi lầm, chỉ cần một trong hai việc hiện khởi, thì sự phạm tội không đầy đủ điều kiện để gọi là phạm tội với tâm phiền não bậc thượng.

            Tương tự, (3) sau lại muốn phát động, (4) cảm thấy rất ưa thích, hai phần biểu thuyên này, cũng trong khoảng thời gian đó phát khởi, nhẫn đến khi chánh hành đầy đủ, trong khoảng trung gian, không xả bỏ ý niệm đó; chứ không có nghĩa là cùng một ác hành, hiện hành không gián đoạn.

            Hỏi: Thế nào là phạm với tâm phiền não bậc trung? Tâm phiền não bậc hạ?

            Trả lời: Các ngài Hải Vân, Đức Quang, Tối Thắng Tử và bản cựu dịch của Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng đều không thấy nói đến, chỉ có Trát Mục Tra Sớ nói có hai nghĩa: (1) Tự tông nghĩa: nghĩa là do phiền não sinh khởi, phiền não tùy thuận, phiền não hộ trì mà trở thành phạm tội với tâm phiền não bậc hạ, trung, hoặc thượng. Lúc đầu là tạm thời sinh khởi, kế đó sau khi sinh khởi, tâm tùy thuận theo phiền não, cuối cùng là phiền não thế lực tăng thượng (càng lúc càng mạnh). (2) Tha tông nghĩa: nghĩa là như Bảo Vân Kinh nói: “Y vào ba phẩm hạ, trung, thượng của ba độc tham, sân, si mà phân biệt.”

            Hai lối thuyết minh vừa nói trên, nghĩa lý đều không hợp. Lại nữa, Giới Nhị Thập Tụng Tân Sớ nói: “Đối với bốn phần vừa đề cập ở trên, tăng thêm một phần “người khác khuyên gián không chịu xả bỏ”, nếu đầy đủ năm phần này thì là phiền não bậc thượng; nếu như người khác can gián mà xả, thì là phiền não bậc trung; nếu như không cần đợi người khác can gián, tự mình có thể xả bỏ ác hành, thì là phiền não bậc hạ.”

            Điều này cũng phi lý, bởi vì nếu các bộ sớ giải có thể tăng gia các phần, thì số phần mà Bồ Tát Địa thiết lập sẽ tăng gia vô hạn lượng.

            Hỏi: Như vậy, thế nào mới là nghĩa chánh?

            Trả lời: Thượng sư Vô Trước chỉ nói phạm với ba tâm phiền não khác biệt. Trước hết, cần phải biết rõ ba loại này, nếu như không biết, ắt không thể biện biệt là khi phạm tội nào thì phải ở trước ba bổ đặc già la làm pháp sám hối? Phạm tội nào thì phải ở trước một bổ đặc già la làm pháp sám hối? Điều này trong các phẩm khác (trung, hạ), đại khái, chưa nói tường tận, phải ở trong phẩm phiền não bậc thượng mới có thể hiểu rõ.

            Trong ba điều kiện (1) cảm thấy rất ưa thích, (2) sau lại muốn phát động, (3) không thấy lỗi lầm, thì điều kiện (3) không thấy lỗi lầm, là phiền não thô trọng so với hai phần đầu. Tuy có hai điều kiện đầu (1) và (2), nếu như thấy lỗi lầm thì có thể sinh khởi tâm hổ thẹn. Nếu như hoàn toàn không thấy sự tai hại, ắt là không thể sinh khởi tâm hổ thẹn. Lại nữa, thấy được lỗi lầm, tuy không có nghĩa nhất định sẽ sinh khởi tâm tàm quý, thế nhưng nếu không thấy lỗi lầm, ắt là tâm tàm quý nhất định không sinh khởi! Cho nên lúc các điều kiện của tâm phiền não bậc thượng chưa đầy đủ, nếu như thấy được lỗi lầm, nên biết đây gọi là phạm với tâm phiền não bậc trung, nghĩa là, không thấy lỗi lầm, nhất định không có tâm hổ thẹn, còn như có tâm hổ thẹn, nên biết nhất định là đã thấy lỗi lầm, cho nên, hai điều kiện này, không cần phải phân cắt chúng ra.

H4. Có thể khôi phục sự thanh tịnh đặc thù

            Nếu chư Bồ tát, tạm thời phạm một pháp tha thắng xứ, không phải là tức thời mất giới Bồ tát luật nghi, ý nghĩa này không giống như giới biệt giải thoát (Tiểu thừa) là nếu phạm tha thắng xứ liền mất giới luật nghi đã thọ, giống như Luận Du Giaø nói: “Như các tỳ kheo phạm pháp tha thắng, tức thời bị mất giới biệt giải thoát”.

            Lại không giống như giới biệt giải thoát, phạm pháp tha thắng xứ, sau khi mất giới, nếu như thọ lại, giới thể không còn sinh khởi trở lại, như Luận Du Già nói: “Nếu chư Bồ tát, do đây hủy phạm xả bỏ Bồ tát luật nghi giới, trong pháp tu hiện đời, có thể thọ lại, không phải là mất hẳn, còn các tỳ kheo an trụ trong giới luật nghi, nếu phạm giới tha thắng xứ, trong pháp tu hiện đời không thể thọ lại.”

            Có người nói phạm pháp tha thắng xứ một lần, không gọi là mất giới, phải phạm đi phạm lại nhiều lần mới gọi là mất giới. Điều này không phải là Luận Du Già nói.

            Giả thiết có người hỏi: “Trong giới biệt giải thoát, nếu phạm pháp tha thắng xứ, nếu như phát lồ, thì giới thể bị mất trước kia có thể thọ lại. Đức Như Lai nói như vậy gọi là đầy đủ, tại sao nói là không thể thọ lại?”

            Trả lời: Ở đây có hai cách thuyết minh. (1) Có người cho rằng nếu phát lồ thì không gọi là tha thắng. Phàm các tội tha thắng đều có sự phú tàng (che dấu), nếu có sự che dấu, thì có thể nói người đó không thể thọ lại. Ở đây muốn nói người phạm tội đó là hành giả Tiểu thừa, như phần trên đã nói. (2) Có người cho rằng dù có phát lồ cũng vẫn gọi là tội tha thắng, ý muốn nói rằng giới biệt giải thoát, không phải giống như giới luật nghi của Bồ tát là tuy tạm thời xả bỏ, vẫn có thể thọ lại. Vì sao? Bồ tát thọ lại, có thể sinh khởi thanh tịnh Bồ tát luật nghi, còn hành giả Tiểu thừa thọ lại, không thể sinh khởi lại thanh tịnh tỳ kheo luật nghi. Ở đây phải quán sát sự khác biệt của người và cảnh, mới có thể đối với giới luật nghi, nói là đầy đủ hay không đầy đủ.

            Hỏi: Vì sao giới biệt giải thoát không thể khôi phục thanh tịnh, còn Bồ tát luật nghi giới, tuy phạm tội tha thắng, vẫn có thể khôi phục thanh tịnh?

            Trả lời: Ngài Hải Vân Luận Sư nói: “Đối với các hành giả Thanh văn, giới biệt giải thoát là chỗ nương tựa của các thiện pháp, nếu hủy hoại giới này, phát động mạnh mẽ tâm không hổ thẹn, vì hủy hoại tâm hổ thẹn, cho nên trong pháp tu hiện đời, không còn có thể thọ lại giới luật nghi; Bồ tát không phải vậy, nghĩa là chư Bồ tát, trong pháp tu hiện đời, tuy đã xả bỏ Bồ tát tịnh giới luật nghi, nhưng vẫn có thể thọ lại, là do vì chưa hủy hoại tâm hổ thẹn.”

            Điều này cho rằng đối với sự phạm tội tha thắng của giới biệt giải thoát, có thể hủy hoại tâm hổ thẹn, còn đối với sự hủy phạm Bồ tát luật nghi, không hủy hoại tâm hổ thẹn, và hơn nữa, giới biệt giải thoát là chỗ nương tựa của các thiện pháp. Ngài Tối Thắng Tử và Trát Mục Tra Sớ cũng nói như vậy. Thế nhưng, nếu y theo sự giải thích vừa nói trên, giả sử có người đặt câu hỏi: “Người phạm tội tha thắng của giới biệt giải thoát, nếu thọ Bồ tát giới, thì giới thể có sinh khởi hay không?” Nếu y theo lối giải thích như trên, thực khó mà giải đáp.

            Giải thích ý nghĩa này, như phần trên đã dẫn Ưu Ba Ly Sở Vấn Kinh nói: “Trong Thanh văn thừa, phạm tội tha thắng, tức là phá hoại Thanh văn tịnh giới. Vì sao? Thanh văn trì giới, vì để đoạn trừ phiền não, như cứu đầu đang bị cháy. Do ý nghĩa này, nên gọi là Thanh văn thừa chỉ có thọ trì giá giới”. Phương Tiện Thiện Xảo Kinh nói: “Lúc đó Bồ tát, tự suy ngẫm như thế này: Ta nay nếu như lập tức thủ chứng Niết bàn, không còn có thể mặc áo giáp tinh tiến, làm sao có thể độ thoát tất cả chúng sinh thoát khỏi sự khổ não của luân hồi?

            Lại nữa, biệt giải thoát giới, hành giả của hai thừa Đại, Tiểu đều có đủ, cho nên Đại, Tiểu thừa đều phải có đủ biệt giải thoát giới. Thế nhưng, biệt giải thoát giới, chính là vì hành giả Tiểu thừa mà chế định, nghĩa là hành giả Tiểu thừa, trong pháp tu hiện đời, tuy chưa biết được là có thể chứng quả A la hán hay không, thế nhưng, bọn họ đều ở trong hiện đời, vì muốn tận trừ, cho nên mặc áo giáp tinh tiến, thề đoạn trừ phiền não, như cứu đầu đang bị cháy. Bọn họ thọ giới là vì muốn hiện đời vĩnh viễn đoạn trừ các phiền não, giả như phạm tội tha thắng mà lại phú tàng, thì trong đời hiện tại không thể tận trừ phiền não, do đó đánh mất ý nghĩa căn bổn của sự thọ giới. Còn chư Bồ tát, đối với giới Bồ tát, tuy phạm tội căn bổn, vẫn không làm mất ý nghĩa căn bổn của sự thọ giới, do đây, chư Bồ tát và các tỳ kheo, đối với các điều giới đã phạm, có thể khôi phục sự thanh tịnh hay không, nên chuẩn cứ vào đây thì biết. Vừa rồi dẫn cứ hai kinh, có thể chứng minh ý nghĩa này. Lại nữa, Tỳ Nại Da Kinh Đại Sớ nói: “Vì muốn giải thoát, nên thọ tịnh giới. Nếu phạm tội tha thắng, liền xa lìa sự giải thoát, tuy có thọ giới lại, cũng đồng như không thọ giới.”

H5. Nhân duyên xả bỏ Bồ tát tịnh giới

            Nói sơ lược, có hai nhân duyên xả bỏ Bồ tát tịnh giới luật nghi: (1) xả bỏ đại nguyện Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, (2) do tâm phiền não bậc thượng phát động phạm tội tha thắng.

            Hỏi: Nếu vậy, tại sao Nhiếp Quyết Trạch Phần nói có bốn loại? Như Nhiếp Trạch Phần nói: “Lại nữa, nhân duyên xả giới có bốn loại: (1) quyết định phát khởi tâm khác biệt với tâm lúc thọ giới, (2) tuyên thệ xả giới trước một người hiểu rõ ý nghĩa của sự xả giới, (3) tổng biệt hủy phạm bốn pháp tha thắng xứ, (4) dùng tâm phiền não bậc thượng hủy phạm bốn pháp tha thắng xứ. Do nhân duyên này, nên biết là bị mất Bồ tát luật nghi.” Xin hỏi, hai phần (3) và (4) khác nhau thế nào?

            Trả lời: Trong Bồ Tát Địa nói có hai nhân duyên bị mất giới, trong Nhiếp Quyết Trạch Phần, số mục của nhân duyên nhiều hơn, thế nhưng cả hai không có sự tương vi. Bồ Tát Địa là bổn nghĩa, còn Nhiếp Quyết Trạch Phần là giải thích. Trong đây, nhân duyên xả giới thứ nhất, có nghĩa là phát tâm Tiểu thừa, phát khởi tâm nguyện khác với tâm nguyện lúc mới thọ giới là vì muốn lợi ích hữu tình cho nên nguyện thành chánh giác. Do vì phát tâm khác biệt với tâm lúc ban sơ, cho nên gọi là xả bỏ nguyện tâm.

            Lại nữa, nhân duyên xả giới thứ hai, nghĩa là trước mặt một người hiểu ý nghĩa của sự xả giới, cố ý phát khởi lời thệ nguyện xả giới, để cho đối phương hiểu rõ. Điều này không giống với sự xả giới biệt giải thoát. Các hành giả Tiểu thừa, do vì không thể thọ trì giới luật nên xả giới, tự làm dứt đoạn phước đức của sự trì giới, bởi vì chỉ xả bỏ giới pháp của chính mình, cho nên không phải là tội lớn, còn ở đây là xả bỏ Bồ tát tịnh giới luật nghi, hủy hoại lời thệ nguyện to lớn đã phát khởi lúc ban đầu là làm lợi ích an lạc cho vô biên hữu tình, do đó người xả giới Bồ tát sẽ bị đọa vào ác đạo, chịu khổ lâu dài, bởi vì, nếu phá hoại sự an lạc của một hữu tình còn bị đọa ác đạo, huống hồ là hủy phạm sự an lạc lợi ích của tất cả chúng sinh! Như Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

            Nếu thệ độ chúng sinh,
            Mà không siêng tu hành,
            Tức là khinh hữu tình,
            Đời sau sẽ về đâu?
Tâm đã nghĩ bố thí,
            Dù là ít vật quèn,
            Nếu sẻn tiếc không cho,
            Kinh nói đọa ngạ quỷ!
            Huống mời chúng sinh đến,
            Buổi tiệc Vô thượng lạc,
            Sau đó lừa chúng sinh,
            Khó mà sinh cõi lành! (Phẩm thứ tư, kệ 4-6)

            Lại nói:

            Dù chỉ trong phút giây,
            Chướng ngại Bồ tát đức,
            Vì tổn hữu tình lợi,
            Quả ác thú vô biên!
            Hoại niềm vui một người,
            Tự thân còn bị tổn,
            Huống hủy sự an lạc,
            Của tất cả chúng sinh? (Phẩm thứ tư, kệ 9-10)

            Do sự xả bỏ Bồ đề nguyện tâm, hoặc tuy là chưa xả bỏ nguyện tâm (thệ nguyện độ thoát tất cả chúng sinh), nhưng lại xả bỏ Bồ đề hành tâm (nghĩa là thệ nguyện tu tập tất cả công hạnh lợi ích chúng sinh), thì tội cũng như nhau, cho nên không nên xả bỏ bất cứ tâm hạnh nào của mình! Như vậy, lúc thọ giới Bồ tát, trước tiên phải nên suy ngẫm kỹ càng, nếu không chịu suy nghĩ kỹ, sau này sẽ trở thành một sự tai hại rất lớn! Học Tập Luận viện dẫn ba bộ kinh, để chứng thành ý nghĩa này, như phần trên đã nói qua.

            Kế đến, nhân duyên xả giới thứ ba, phần trên đã nói tổng quát và chi tiết về sự hủy phạm bốn pháp tha thắng xứ.

            Lại nữa, đối với nhân duyên xả giới thứ tư, lại nói dùng tâm phiền não bậc thượng hủy phạm bốn pháp tha thắng xứ, nghĩa là nếu chưa đủ các điều kiện để phạm với tâm phiền não bậc thượng, thì tuy phạm tội tha thắng, cũng chưa phải là tội tha thắng thực sự, mà cũng không gọi là nhân duyên xả giới. Nếu phạm nhân duyên xả giới thứ tư, cũng tức là phạm nhân duyên xả giới thứ ba, cho nên phải nói như sau: “Dùng tâm phiền não bậc thượng riêng phạm một pháp tha thắng xứ, cùng sự phạm tổng quát nhiều pháp tha thắng xứ, đây gọi là hai nhân duyên xả giới thứ ba và thứ tư.” Trong Bồ Tát Địa nói nhân duyên xả giới thứ hai, thì trong Quyết Trạch Phần chia làm hai nhân duyên, cho nên nói có bốn loại, đây chỉ là sự liệt kê chi tiết.

            Lại nữa, Bồ tát thành tựu đầy đủ tịnh giới, nếu như không bỏ đại nguyện Vô thượng Bồ đề, không xả bỏ Bồ tát tịnh giới đã thọ, cũng không phạm giới tha thắng xứ với tâm phiền não bậc thượng, tuy phải thọ sinh vào ba cõi thượng, trung, hạ, ở tất cả các nơi thọ sinh, sẽ không mất tịnh giới luật nghi của Bồ tát, hoặc giả, người đó sau khi chuyển thân qua đời khác, quên mất bổn niệm, khi gặp gỡ thiện tri thức, vì muốn “giác ngộ Bồ tát giới niệm”, tuy nhiều lần thọ lại, vẫn không phải là thọ giới thể mới.

            Trong đây nói ba cõi thượng, trung, hạ, như các sớ giải nói: “Thượng, tức là cõi trời, trung, tức là cõi người, còn hạ tức là ba ác đạo. Hoặc do nguyện lực mà sinh vào các cõi đó, hoặc vì muốn làm lợi ích tất cả hữu tình mà sinh vào cõi đó, hoặc là do nghiệp lực mà sinh vào cõi đó.”

            Lại nữa, ngài Tối Thắng Tử và Trát Mục Tra Sớ đều nói: “Tuy thọ sinh vào các cõi khác nhau, nhưng chung cục không còn tạo tác những nghiệp mà Bồ tát không nên tạo tác.” Đây là do Bồ tát có đầy đủ năng lực an trụ trong tịnh giới.

 

Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006