Phần 6
I2. Thuyết minh của các bộ luận khác (Học Tập Luận nói về tất cả tội nặng căn bản).
J1. Các luận sư khác.
K1. Nêu lên lập luận của các luận sư khác.
L1. Bồ Đề Hiền.
Bộ Tân Sớ của ngài Bồ Đề Hiền cho rằng Luận Du Già dẫn chứng Hư Không Tạng Kinh nói về căn bổn trọng tội, không phải căn cứ sau khi thọ giới mà nói. Phải nên thiết lập “những điều giới đó không phải là căn bổn tội” mà phá trừ “những điều giới đó là căn bổn tội”.
Thiết lập “những điều giới đó không phải là căn bổn tội”, nghĩa là các tội này không phải là nhân duyên hủy hoại “tịnh giới đầy đủ”; như trong Kinh có nói: “Vua Sát đế lợi có căn bổn tội, đốt sạch tất cả nhân lành đời trước, xa lìa những quả báo vui cõi trời người, sa vào ác đạo, phạm tội tha thắng.” Đây có nghĩa là hủy hoại tất cả căn lành và quả vui cõi trời người có được trước khi thọ giới.
Nói phá trừ “những điều giới đó là căn bổn tội”, nghĩa là nếu các tội này là nhân duyên hủy hoại “tịnh giới đầy đủ”, ắt phải là tội tha thắng. Nếu vậy, vị Bồ tát đầy đủ tịnh giới, đối với tất cả tội tha thắng này, tùy phạm một tội thì sẽ mất giới thể, huống chi là phạm tất cả. Những nhân duyên như vậy, trong phần Bồ Tát Địa ắt phải đề cập, thế nhưng chưa hề thấy đề cập đến.
Lại nữa, Đức Thế Tôn vì vua Sát đế lợi nói có năm tội căn bổn, vì các vị Bồ tát mới an trụ trong pháp Đại thừa, nói có tám tội căn bổn, như vậy sự trì giới của họ, ắt phải có sự khác biệt. Thế nhưng, nếu nói như vậy, thực không hợp lý, vì như Kinh nói: “Vua Sát đế lợi có năm tội căn bổn, không phải là tội căn bổn của Bồ tát Đại thừa sơ cơ”. Còn như nếu cho rằng tám tội căn bổn của hành giả Đại thừa sơ cơ không phải là tội căn bổn của vua Sát đế lợi, thì cũng không hợp lý, bởi vì giới luật nghi không có sự sai biệt.
L2. Vô Úy Sinh.
Ngài Vô Úy Sinh cho rằng Hư Không Tạng Kinh và Bồ Tát Địa nói về căn bổn tội, tuy có chỗ bất đồng, nhưng không có lỗi tương vi (trái nghịch), nghĩa là do vì bổ đặc già la có ba phẩm thượng, trung, hạ khác nhau, như vậy tội căn bổn cũng có ba loại: năm điều, tám điều, bốn điều khác nhau. Nếu y theo đây mà nói thêm về sự khác biệt của tội tướng, phải nên nói như sau: “Mỗi một bổ đặc già la, cũng có tất cả các tội khác”, nghĩa là năm tội của vua Sát đế lợi là tội của bổ đặc già la trung phẩm, tám tội của hành giả Đại thừa sơ cơ là tội của bổ đặc già la hạ phẩm, bốn tội mà Bồ Tát Địa nói đến là tội của bổ đặc già la thượng phẩm. Nếu y vào mỗi một bổ đặc già la mà có thể an lập tất cả tội, thì ba phẩm bổ đặc già la, mỗi phẩm bổ đặc già la phải có mười bảy tội căn bổn.
Thế nhưng, Hư Không Tạng Kinh đã nói đến tội tha thắng thứ nhất trong Bồ Tát Địa, nếu vậy, Hư Không Tạng Kinh phải có mười bốn tội căn bổn, thêm vào ba tội trong Bồ Tát Địa, hợp thành mười bảy tội căn bổn. Ba tội trong Bồ Tát Địa, nghĩa là hai tội thứ hai và thứ ba, thêm vào tội thứ bốn Ham thích diễn nói pháp tương tự với chánh pháp.
Ngài Bồ Đề Hiền lại cho rằng bốn tội được nói trong Bồ Tát Địa có thể hàm nhiếp tất cả tội khác. Tất cả tội khác, không tội nào không bị hàm nhiếp trong bốn tội căn bản này.
Hàm nhiếp có hai: (1) năng nhiếp, tức là tội khen mình chê người, v.v..., phân ra thành tám tội; (2) sở nhiếp, tức là hàm nhiếp tội Phản bội Đại thừa, tội Vì tham cầu lợi dưỡng cung kính nên khen mình chê người, v.v..., cùng các tội trong Hư Không Tạng Kinh, lại thêm tội Rốt ráo thoái thất Bồ đề tâm trong Thiện Xảo Phương Tiện Kinh, tức thành mười bốn tội căn bổn.
Hàm nhiếp thế nào? Khiến cho người khác xả giới biệt giải thoát, nói càn là Thanh văn không cần xả bỏ tâm tham, v.v..., tự cho mình đã được pháp nhẫn thậm thâm, tức là nhiếp vào điều giới khen mình chê người.
Lại nữa, cướp đoạt tài vật của Tam bảo, đoạt cà sa của tỳ kheo đang mặc, trói phạt sa môn, cưỡng đoạt đây đem cho kia, lấy vật của người thật tu đem cho người giả tu, đều là nhiếp vào pháp bỏn sẻn tài vật không bố thí, nghĩa là do bỏn sẻn tài vật, khởi tâm tham mãnh liệt. Đối với tài vật của người khác, ngăn trở không cho họ sử dụng để mà đoạt lấy, hoặc tự ý đem cho người khác, đối với vật bố thí thì dùng sức mạnh để cưỡng đoạt. Những việc như vậy đều là do tính bỏn sẻn.
Lại nữa, phá hòa hợp tăng tạo tội vô gián, làm cho đối phương bỏ phế việc tu hành (xa ma tha), đây là nhiếp vào bỏn sẻn pháp không chịu bố thí; đối với tất cả pháp, tự mình không nhẫn thọ, lại phá hoại người khác không cho nhẫn thọ; khởi tâm bỏn sẻn mãnh liệt, tự mình không chánh giải, lại làm cho người khác không chánh giải.
Lại nữa, mặc tình đánh đập tỳ kheo phá giới, tạo bốn nghiệp vô gián (ngoại trừ phá tăng), và hủy hoại xóm làng thành ấp, đây là nhiếp vào giới đánh đập hữu tình.
Lại nữa, khiến cho người khác xả bỏ pháp Thanh văn, Duyên giác, nói nghĩa lý chân thực thâm sâu cho người ngu si, làm cho họ xả bỏ tâm Bồ đề, đây là nhiếp vào phỉ báng Bồ tát tạng, nghĩa là ba pháp Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều là do Phật nói, nếu làm cho họ xả bỏ một pháp, họ sẽ bỏ luôn hai pháp kia. Tự mình làm cho những người ngu muội, do nhân duyên này, phỉ báng lý chân không, thoái thất tâm Bồ đề, vì đã xả bỏ Đại thừa.
Lại nữa, chấp giữ tà kiến, mình và người an trụ trong mười nẻo bất thiện, làm cho hành giả Đại thừa thoái thất tâm Bồ đề, chuyển qua tu Tiểu thừa, tức là nhiếp vào nói pháp tương tự, ý muốn nói là hai Thừa kia, so với pháp Đại thừa, thì được xem là pháp tương tự.
L3. Tây tạng pháp sư 1.
Có một vị pháp sư cho rằng, do vì căn cơ chúng sinh khác biệt, cho nên ý thú của kinh luận cũng khác biệt. Nghi quỹ truyền giới được biên chế cũng có nhiều sự sai khác, cho nên nếu y vào Học Tập Luận và Nhập Bồ Tát Hành Luận mà thọ giới, thì phải lấy những điều giới trong Hư Không Tạng Kinh làm căn bổn tội; còn nếu y vào nghi quỹ của Bồ Tát Địa mà thọ giới, thì phải lấy những điều giới trong Bồ Tát Địa làm căn bổn tội.
L4. Tây tạng pháp sư 2.
Tây tạng lại có pháp sư cho rằng đây là do tông chỉ của hai tông Trung quán và Duy thức không đồng mà đưa đến sự khác biệt.
K2. Đả phá lập luận của các luận sư khác.
L1. Phá ngài Bồ Đề Hiền.
Từ trước đến giờ những điều mà bộ Tân Sớ của ngài Bồ Đề Hiền nêu lên đều không hợp lý, nghĩa là trái ngược với sự giải thích kinh điển của ngài Tịch Thiên. Như trong Học Tập Luận của Bồ tát Tịch Thiên, đầu tiên nêu lên câu hỏi giả thiết: “Vị vua Sát đế lợi và hành giả Đại thừa sơ cơ, đã đầy đủ giới Bồ tát hay chưa? Nếu như đầy đủ thì không nên phân biệt vua Sát đế lợi có năm tội, hành giả Đại thừa có tám tội; còn nếu chưa đầy đủ thì không thể cho rằng “những người đó phạm tội”, vì sao lại gọi là tội của sự phạm giới đầy đủ?
Sau đó nêu lên câu trả lời như sau: “Đối với tất cả tội, tùy theo chỗ phạm, mà thiết lập danh xưng của tội trạng, làm cho người phạm sinh tâm sợ hãi. Như vậy, tất cả đều gọi là tội, cần phải xa lìa. Phải nên nói như vậy, thì không có sự tương vi, nghĩa là tội căn bổn này, nếu chưa thọ giới mà phạm, ắt sẽ hủy diệt tất cả thiện căn, không thể thọ giới; còn nếu như đã thọ giới đầy đủ rồi mà phạm giới, thì tội lại càng nặng hơn.” Còn như ngài Bồ Đề Hiền lại cho rằng sự phạm tội có thể hủy hoại tất cả thiện căn trước khi thọ giới, nhưng không thể hủy phạm giới, đây là điều tương vi mà chúng ta muốn đề cập đến.
Lại nữa, bộ sớ của ngài Bồ Đề Hiền đề cập đến những tội đó, nếu là căn bổn tội, thì trong Bồ Tát Địa phải nói đến, thế nhưng lại không thấy đề cập đến. Nếu như cho rằng vì trong Bồ Tát Địa chưa nói các tội căn bổn khác, cho nên các vị Bồ tát tu học tịnh giới chỉ có thể dùng bốn pháp làm căn bổn tội, mà không biết đến các tội căn bổn khác, nếu không biết các tội khác thì cũng không thể hủy phạm giới. Do vì không biết có chỗ phòng hộ, đây tức là có lỗi.
Còn nếu cho rằng “những điều tội đó” không phải là căn bổn tội, thì trong Bồ Tát Địa cũng phải quyết định nói không phải là căn bổn tội, thế nhưng lại chưa thấy nói đến. Nếu đem “không phải căn bổn tội” cho là căn bổn tội, “không hủy phạm tịnh giới” cho là hủy phạm tịnh giới, thì đây cũng là không biết chỗ phòng hộ, cũng gọi là có lỗi.
Lại nữa, các tội mà Hư Không Tạng Kinh nói đến, trong Bồ Tát Địa không thấy nói đến, và ngược lại, những tội vi phạm mà Bồ Tát Địa nói đến, trong Học Tập Luận cũng không đề cập đến. Nên biết, trong các kinh luận, không nhất định phải nói đến tất cả các học xứ, bởi thế, trong Bồ Tát Địa cũng như Học Tập Luận đều nói: “Nếu như muốn biết, phải nên tham khảo tường tận Kinh tạng”.
L2. Phá ngài Vô Úy Sinh.
Như ngài Vô Úy Sinh cho rằng: “Đem những điều mà Học Tập Luận nói làm căn bổn tội”, đây là điều chí lý. Thế nhưng, nếu cho rằng bốn tội căn bổn trong Bồ Tát Địa, có thể hàm nhiếp tất cả tội khác, thì sự hàm nhiếp này, phần lớn không được hợp lý, bởi vì đem mỗi một biệt tướng thâu nhiếp vào tổng tướng, đây là điều không thích nghi.
L3. Phá Tây tạng pháp sư 1.
Lập luận của pháp sư Tây tạng 1, Học Tập Luận đã luận phá, nghĩa là Bồ tát đầy đủ giới, không nên thiết lập các tội khác biệt.
L4. Phá Tây tạng pháp sư 2.
Trong Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận Sơù, có pháp sư Tây tạng nói rằng năm tội của vua Sát đế lợi không phải là tội căn bổn, tám tội của Bồ tát Đại thừa mới là tội căn bổn. Lại nói hai tông Long Thọ, Vô Trước bất đồng. Nên biết ở đây Học Tập Luận dung hợp hai tông mà nói các loại tội. Những điều mà pháp sư trên vừa nói, đều là sự tương vi, ý nghĩa cũng không thể thành lập.
J2. Thuyết minh của Học Tập Luận.
Đại khái, như Hư Không Tạng Kinh nói về các tội căn bản, ngài Bồ tát Tịch Thiên chú thích ý nghĩa của kinh, cũng nói rằng chúng là tội nặng căn bổn, và hơn nữa, ngài lại còn dung nhiếp ý nghĩa của kinh này và Bồ Tát Địa. Dung nhiếp ý nghĩa của hai tông Trung Quán và Du Già, đây là điều thích đáng nhất.
Như bản cựu dịch của Học Tập Luận nói: “Để cho dễ hành trì, đối với những điều tội đó, dung nhiếp thành một, ghi thành già đà (kệ).”
Nếu theo cựu dịch, hình như đem hai tông, dung nhiếp thành một nghĩa; nhưng nếu theo tân dịch, thì chỉ y vào một tông nghĩa, tức là thiết lập tông nghĩa của ngài Vô Trước.
Lại nữa, Nhập Bồ Tát Hành Luận Đại Sớ cũng nói đây là tội nặng căn bổn. Bộ sớ của ngài Thiện Thiên cũng nói: “Trước tiên nên đọc tụng Hư Không Tạng Kinh, mới có thể tư duy quyết trạch các tội căn bản”, nghĩa là trong các tội, những tội có thể hủy hoại giới thể, tức là căn bản tội. Hư Không Tạng Kinh đã đại khái nói qua, cho nên phải tìm đọc cho biết. Sớ của ngài Giải Thoát Nguyệt cũng nói: “Đối với các tội căn bổn có thể hủy hoại giới thể, nhất nhất phải xem Hư Không Tạng Kinh.” Sớ của ngài Biến Chiếu Sinh cũng nói giống như trên, nghĩa là thiết lập những điều tội đó là căn bổn tội.
Trong Học Tập Luận hàm nhiếp các tội căn bổn thành bài kệ như sau:
(1) Cướp đoạt tài sản của Tam bảo,
Đây là tội tha thắng thứ nhất.
(2) Phản bội cùng hủy báng chánh pháp,
Phật nói là tha thắng thứ hai.
(3) Đối với tỳ kheo, dù phá giới,
Đoạt cà sa, hoặc đánh đập họ,
Hoặc đem trói buộc, giam vào ngục,
Bức họ hoàn tục, bỏ xuất gia.
(4) Tạo tác năm loại tội vô gián.
(5) Bám chặt tà kiến, báng nhân quả.
(6) Hủy hoại thành ấp và làng xóm,
Phật nói đều là tội căn bổn.
(7) Lại vì những người không trí tuệ,
Diễn nói sâu rộng lý chân không.
(8) Làm cho người muốn vào Phật thừa,
Thoái thất tâm Bồ đề Vô thượng.
(9) Khiến người xả bỏ pháp Thanh văn,
Mà chỉ tu học pháp Đại thừa.
(10) Nói bừa rằng Thanh văn, Duyên giác,
Không thể xả bỏ phiền não tham,
Làm cho người tu bỏ Nhị thừa.
(11) Tự khen có công đức thù thắng,
Vì tham lợi dưỡng và cung kính,
Đem lời gian xảo nhục mạ người.
(12) Tự cho đã được nhẫn thậm thâm,
Điên đảo, phô trương, loè người khác
(13) Lạm quyền trói, phạt các sa môn,
Tài vật thí chủ cúng Tam bảo,
Ỷ mạnh giành lấy cho kẻ khác.
(14) Làm người khác bỏ xa ma tha,
Lấy vật của bậc chân tu hành,
Đem cho kẻ tu hành giả dối.
Như vậy, đều là tội căn bản,
Đều là nhân của đại địa ngục,
Phải nên đối ngài Hư Không Tạng,
Trong mộng, sám hối diệt chư tội.
(15) Rốt ráo, thoát thất tâm Bồ đề.
(16) Bỏn sẻn không khởi lòng thương xót,
Người đến cầu xin, không bố thí.
(17) Trong lòng ôm ấp nỗi oán hờn,
Người đến sám hối, không tha thứ,
Giận dữ đánh đập chư hữu tình.
(18) Do tâm nhiễm dục, theo người khác,
Ham thích diễn nói pháp tương tự.
K1. Pháp tha thắng thứ nhất.
Pháp tha thắng thứ nhất là gì? Nghĩa là đối với tài vật của Tam bảo, không cho mà lấy. Trong đây có sáu phần:
1/ Tài vật chủ: Trong kinh chỉ nói vật của tốt đỗ ba, vật của tăng, và vật của tứ phương tăng. Tốt đỗ ba, tức là Phật và pháp, hợp với tăng già, gọi là Tam bảo. Nói Phật, nghĩa là Phật thân, hoặc các Phật tượng; nói Pháp, nghĩa là kinh điển, hoặc luật luận; nói Tăng, thì có sự giản biệt như sau, (a) nếu là phàm phu, cần phải bốn vị tỳ kheo trở lên mới được gọi là tăng, (b) nếu là thánh nhân, chỉ cần một vị cũng gọi là tăng. Tứ phương tăng thì không có sự giản biệt. Lại nữa, có bộ luận khác cho rằng: “ Tam bảo, tức là (1) Thích Ca Như Lai, (2) vô lậu diệt đạo, (3) các bậc thánh hữu học”. Ở đây, chúng ta không chọn nghĩa này, bởi vì trong đây chỉ nói “vật của tốt đỗ ba và vật của tứ phương tăng.” Lại nữa, nếu cướp đoạt vật của tốt đỗ ba, hoặc vật của người khác cúng cho tăng, hoặc vật của tứ phương tăng, chỉ cần đoạt tài vật của một Bảo là phạm, không cần phải đoạt tài vật của cả ba Bảo mới phạm.
2/ Đồ vật bị đoạt: Trong kinh không có nói rõ ràng. Nên biết tất cả ruộng, đất, phòng ốc, ẩm thực, xe cộ đều là đối tượng. Số lượng nhiều ít, cũng không thấy nói rõ. Nên biết, vật bị trộm cắp, dù là nhỏ bé nhất, cũng thành nghiệp trộm cắp. Nếu vật của người khác cúng cho tăng, dù là vị tăng đó đã nhận được hay chưa, nếu trộm cắp thì cũng đồng như trộm đồ vật của tăng, do vì thí chủ đã có ý cúng dường vật đó cho Tam bảo, thì vật đó tức là vật của Tam bảo.
3/ Người trộm: lúc trộm đồ vật của tăng, phải chính mình không phải là tăng.
4/ Ý tưởng muốn trộm cắp: Đây có ba phần. (a) Tầm tư, nghĩa là có sự phân biệt. Đối với vật của Tam bảo có ý muốn trộm cắp, tâm không cuồng loạn. Nếu như trộm nhầm, thì không gọi là trộm cắp đồ vật của Tam bảo. Đây là tướng tổng quát của sự không cho mà lấy. (b) Phát khởi ý muốn trộm cắp, nghĩa là vật của Tam bảo đó, không phải là của riêng mình, và muốn làm cho nó lìa khỏi bổn xứ. Ý tưởng muốn trộm cắp này, hoặc là “nghề nghiệp” của họ, hoặc do phiền não mà phát khởi, chứ không nhất định phải là do tâm tham phát khởi ý muốn trộm cắp. Nếu vì muốn làm lợi người khác, đem tâm thương xót mà làm việc cướp đoạt, điều này có tội hay không, phần sau sẽ nói tới. Ví như có những căn bổn tội, trong các điều giới khác, có thể khai phương tiện, nhưng không thể ngay trong điều giới căn bổn tội đó mà được quyền khai phương tiện.
5/ Gia hành của sự trộm cắp, nghĩa là tự mình trộm, hoặc bảo người khác trộm. Tự mình làm hoặc bảo người khác làm, tội đều như nhau. Nếu người khác không hay biết mà mình lấy trộm, hoặc mình dùng thế lực cưỡng đoạt, đều gọi là phạm, cho nên bản cựu dịch của Luận Du Già nói: “Lấy trộm và cướp đoạt tài vật của Tam bảo.”
6/ Hành tướng của sự không cho mà lấy: nghĩa là muốn lấy cho được món đồ ấy.
Trong điều giới tha thắng này, có ba tội tha thắng, nghĩa là trộm cướp tài vật của Phật, của pháp và của tăng.
K2. Pháp tha thắng thứ hai.
Pháp tha thắng thứ hai là gì? Nghĩa là hủy báng, xả bỏ chánh pháp. Trong đây có hai phần:
1/ Đối tượng của sự hủy báng, xả bỏ. Kinh nói: “Phỉ báng pháp Thanh văn, hoặc pháp Duyên giác, hoặc pháp Đại thừa. Lại còn cấm chế người khác không cho tu học, đây là tội nặng căn bản thứ hai.” Trong đây chữ “hoặc”, có nghĩa là mỗi một loại kinh điển của ba Thừa, đều là chánh pháp. Phỉ báng pháp Đại thừa, nghĩa là nếu phỉ báng, phản bội bất cứ một pháp nào của Đại thừa sâu xa rộng lớn, thì đều gọi là phạm. Điều đang nói ở đây, và trong Bồ Tát Địa nói phỉ báng Đại thừa, là tội tha thắng, nghĩa là pháp Đại thừa này nêu rõ hai loại pháp sâu xa rộng lớn của kinh tạng. Tương tự, đối với pháp tạng Tiểu thừa, pháp tứ đế của Thanh văn, pháp mười hai nhân duyên của Duyên giác, nếu phỉ báng một pháp, cũng gọi là phạm. Nên biết, đây cũng giống như phỉ báng pháp Đại thừa.
Hoặc có người hỏi: “Phỉ báng, xả bỏ một pháp của Đại thừa gọi là tội vi phạm (nhẹ), phỉ báng, xả bỏ pháp Thanh văn, Duyên giác gọi là tội tha thắng, điều này dường như không có lý, bởi vì tội phỉ báng Đại thừa nặng hơn phỉ báng Tiểu thừa?”
Trả lời: “Không có mâu thuẫn. Các giới trước sau, không nhất định phải y vào sự vi phạm lớn nhỏ mà kết tội nặng nhẹ. Như trong giới biệt giải thoát, nếu giết người, gọi là phạm tội tha thắng, còn nếu ác tâm làm cho thân Phật chảy máu, gọi là tội thô (tội thâu lan giá, nhẹ hơn tội tha thắng). Còn hành giả Đại thừa, đối với tài sản của người tại gia, không cho mà lấy, không gọi là phạm tội tha thắng, còn nếu như hiện tại đang có tài vật, đối với người nghèo khổ đến xin, bỏn sẻn không chịu bố thí, thì gọi là phạm tội tha thắng.
2/ Tướng trạng của sự xả bỏ: Học Tập Luận, Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận đều dẫn Kinh nói: “Phỉ báng pháp Thanh văn, pháp Duyên giác, hoặc pháp Đại thừa, hoặc cấm chế người khác, không cho tu học”. Thế nhưng, tra lục nguyên văn của kinh, thì chỉ thấy nói: “Phỉ báng, xả bỏ pháp Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát thừa, ngăn trở làm khó khăn, không chịu tu học”. Trong Bồ Tát Địa cũng chỉ nói “tự phỉ báng Đại thừa”, chưa thấy nói làm cho người khác chuyển theo mình. Như vậy, hai cách nói này đều giống như nhau. Tội tha thắng này, không nhất định phải làm cho người khác phỉ báng, xả bỏ. Tự mình phỉ báng, nghĩa là đối với chánh pháp, phỉ báng cho rằng không phải do Đức Như Lai nói ra.
Hỏi: Nếu vậy, trong phần tội vi phạm, phỉ báng, xả bỏ pháp Thanh văn, gọi là tội vi phạm, như vậy là trái ngược với ở đây?
Trả lời: Đó chỉ là khinh miệt, chứ không phải là hủy báng, xả bỏ. Như phần sau sẽ nói.
Trong pháp tha thắng này, có ba tội tha thắng, nghĩa là phỉ báng pháp Thanh văn, phỉ báng pháp Duyên giác, và phỉ báng pháp Bồ tát.
K3. Pháp tha thắng thứ ba.
Pháp tha thắng thứ ba là gì? Là xâm hại tổn thương xuất gia tỳ kheo. Trong đây có hai phần.
1/ Người bị xâm hại: Như trong Kinh nói: “Người nương vào Phật pháp xuất gia, cạo râu tóc, mặc pháp phục, có giới hoặc không có giới, trì giới hay phá giới”, tức là như trong bài kệ phía trước nói: “Đối với các tỳ kheo, dù phá giới”.
2/ Xâm hại tổn thương thế nào? (a) tâm mong muốn: do phiền não mà khởi tâm tổn hại; (b) gia hành: những hành động như đoạt cà sa, hoặc khiến cho hoàn tục, bức bách xả giới, nhẫn đến đánh đập, hoặc bắt giam vào ngục, hoặc sát hại, thì phạm tội tha thắng. Nên biết, đây là nhiếp vào giới tha thắng “đánh đập, xâm hại, tổn não hữu tình”. Lại như, cưỡng đoạt cà sa của những người xuất gia đầy đủ giới đức, nếu như số lượng tỳ kheo bị cưỡng đoạt chưa đến bốn vị, nên biết đây là nhiếp vào tội tha thắng này, còn như số lượng tỳ kheo bị cưỡng đoạt từ bốn vị trở lên, thì ắt là phạm tội tha thắng thứ nhất.
Trong pháp tha thắng này, có hai tội tha thắng, (a) cưỡng đoạt cà sa, (2) bức bách hoàn tục.
K4. Pháp tha thắng thứ tư.
Pháp tha thắng thứ tư là gì? Nghĩa là tạo năm nghiệp vô gián: giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp tăng, dùng ác tâm làm thân Phật ra máu. Đây gọi là năm tội vô gián căn bổn. Lại nữa, ngoại trừ phá hòa hợp tăng ra, bốn tội vô gián kia đều nhiếp vào pháp tha thắng thứ năm trong Bồ Tát Địa.
K5. Pháp tha thắng thứ năm.
Pháp tha thắng thứ năm là gì? Nghĩa là khởi tà kiến, chấp chặt không bỏ, nói càn là không có nghiệp quả thiện ác đời trước đời sau. Khởi tà kiến như vậy, đoạn diệt thiện căn. Tội tha thắng này, không nhất định phải là bảo người khác làm mười điều ác, mà chỉ cần tự mình làm mười điều ác, tức là phạm tội tha thắng.
K6. Pháp tha thắng thứ sáu.
Pháp tha thắng thứ sáu là gì? Tức là phá hủy, tổn hoại trụ xưù.
Trong đây có hai phần: (1) chỗ bị hủy hoại: là những chỗ như quốc, ấp, thành và thị; (2) năng hủy, có hai phần: (i) tâm mong muốn, nghĩa là do phiền não phát động mà khởi tâm hủy hoại; (ii) gia hành, nghĩa là dùng tất cả các phương tiện thực hiện sự hủy hoại.
Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận dẫn chứng Kinh nói rằng: “Trên đây, pháp tha thắng thứ nhất đến thứ năm là năm tội của vua Sát đế lợi, pháp tha thắng thứ sáu là tội thứ hai của đại thần, hợp với bốn tội vô gián, thành ra năm tội của đại thần.”
Ở đây chỉ nói tội tha thắng hủy hoại trụ xứ, còn tội căn bản hủy hoại hữu tình trong trụ xứ (quốc ấp), thì được nhiếp vào tội tha thắng đánh đập hữu tình, và còn tội căn bản hủy hoại tài vật trong trụ xứ, thì lại được nhiếp vào tội tha thắng thứ nhất, hoặc tội tha thắng thứ mười ba. Trong tội tha thắng này có bốn tội tha thắng, nghĩa là hủy hoại (a) quốc, (b) ấp, (c) thành, (d) thị.
K7. Pháp tha thắng thứ bảy.
Pháp tha thắng thứ bảy là gì? Là nói nghĩa lý thâm sâu cho những người không đủ trình độ (không đúng căn cơ).
Trong đây có ba phần: (1) Người nghe pháp: là những người có trí tuệ nông cạn, nghe nói lý chân không thâm diệu, liền sinh lòng lo sợ, thoái thất tâm Bồ đề. (2) Pháp được nói: là lý chân không, xa lìa tất cả hý luận. (3) Sau khi nghe xong: nghĩa là sau khi nghe xong lý thuyết chân không, đối phương bèn sinh lòng sợ hãi, thoái thất tâm Đại bồ đề, và sinh tâm ưa thích Tiểu thừa.
Đây là do vì không quán sát đối phương có đủ trình độ hay không, nên vội vàng khinh suất nói pháp thâm sâu. Nếu như sau khi quán sát kỹ lưỡng, cho rằng đối phương có đủ trình độ, thế nhưng đối phương rốt ráo không phải là người đúng căn cơ như mình nghĩ, thì không gọi là phạm tội tha thắng.
K8. Pháp tha thắng thứ tám.
Pháp tha thắng thứ tám là gì? Nghĩa là làm cho người khác thoái thất tâm Đại thừa.
Trong đây có hai phần: (1) Người có thể thoái thất: tức là những hữu tình đã tu tập pháp Đại thừa, đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, an trụ trong Đại thừa. (2) Tướng trạng làm cho thoái thất: tức là nói với đối phương như sau: “Sức ông không kham tu lục độ vạn hạnh, không thể thành tựu Nhất thiết chủng trí, chi bằng phát tâm Thanh văn, Bích chi phật, mau thoát sinh tử, chứng nhập Niết bàn.”
Hỏi: Ý trong đây muốn nói là làm cho người khác thoái thất tâm Đại thừa, hay còn cần phải làm cho họ thoát sụt, tu pháp Tiểu thừa (mới phạm tha thắng)?
Trả lời: Như Nhập Bồ Tát Hành Luận Đại Sớ nói: “Thứ hai, làm cho người khác thoái thất tâm Vô thượng Bồ đề, lại còn làm cho họ phát tâm tu Tiểu thừa.” Như vậy, còn cần phải làm cho họ chuyển tu Tiểu thừa mới phạm.
K9. Pháp tha thắng thứ chín.
Pháp tha thắng thứ chín là gì? Là làm cho người khác xả bỏ giới biệt giải thoát.
Trong đây có hai phần: (1) Người khác nghe và tin tưởng: tức là những người đã như lý tu học biệt giải thoát tỳ nại da. (2) Tướng trạng làm cho người nghe và tin tưởng: tức là nói với đối phương như sau: “Ông cần gì thọ học giới tỳ nại da, ông nên đọc tụng Kinh điển Đại thừa, mau phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, diệt trừ trọn vẹn ba ác nghiệp do phiền não sinh ra,” nghĩa là nói chỉ cần đọc tụng Đại thừa, phát Bồ đề tâm, là có thể diệt trừ trọn vẹn các ác nghiệp.
Bản cựu dịch, ở đây tuy cũng nói: “Xả bỏ biệt giải thoát giới, thoát thất tâm đã phát, đọc tụng Đại thừa”, thế nhưng, bản tân dịch và Hư Không Tạng Kinh mới là chính xác. Nhập Bồ Tát Hành Luận Đại Sớ cũng nói: “Thứ ba, nói với người khác rằng: “Ông nên xả bỏ giới biệt giải thoát, phát tâm Đại thừa, đọc tụng Đại thừa, thì sẽ được thanh tịnh.”
Hỏi: Như thế, tại sao trong phần tội vi phạm phía sau có nói: “Nếu chư Bồ tát nói như vầy: “Bồ tát không nên học tập pháp tương ưng với Thanh văn thừa”, đây gọi là phạm tội vi phạm”.
Trả lời: Nếu nói như vậy, làm cho người khác tin hiểu, thì gọi là vi phạm; còn nếu làm cho người khác thoái thất, xả bỏ sở học, thì gọi là tha thắng.
K10. Pháp tha thắng thứ mười.
Pháp tha thắng thứ mười là gì? Là hủy báng pháp Thanh văn thừa.
Trong đây có hai phần: (1) Chỗ hủy báng: nghĩa là hữu học thừa, tức là pháp của các vị hữu học tu học, cũng tức là Thanh văn thừa, hoặc là Duyên giác thừa, hoặc là cả hai thừa Thanh văn, Duyên giác. (2) Tướng trạng của sự hủy báng: nghĩa là dùng tâm cao ngạo nói lời hủy báng như sau: “Ông là Tiểu thừa, chỉ học Tiểu thừa, không thể đoạn trừ kết sử phiền não.” Điều này giống như trong Kinh nói: “Ông không nên nghe, thọ trì, đọc tụng Kinh điển Thanh văn, không nên dạy người khác”. Chỉ cần nói như vậy là đã phạm tội tha thắng, không cần phải như Kinh nói thêm: “Làm cho người thọ trì xả bỏ Nhị thừa”, mới gọi là tội tha thắng.
Trong đây nói đối phương (người nghe) nghe và tiếp nhận thì (người nói) phạm tội tha thắng, nên biết đối phương (người nghe) trong điều giới này so với người nghe trong hai điều giới thứ bảy và tám không đồng. Người nghe trong hai điều giới trên đầy đủ giới luật, do nghe và tin tưởng bèn thoái thất tâm Bồ đề, cho nên không được liệt kê trong điều tội căn bản này. Phần sau sẽ nói rõ hơn.
Lại nữa, tội tha thắng này so với tội tha thắng thứ hai “phỉ báng xả bỏ pháp Thanh văn”, có chỗ khác biệt, tức là phía trên là phỉ báng kinh điển, cho rằng không phải do Phật nói, còn ở đây là phỉ báng pháp, cho rằng pháp này không thể đoạn trừ căn bản sinh tử luân hồi.
K11. Pháp tha thắng thứ mười một.
Pháp tha thắng thứ mười một là gì? Là tự khen mình và chê bai người khác.
Trong đây có bốn phần: (1) Người nói: tức là như Học Tập Luận dẫn Kinh nói: “Thấy đối phương được người khác kính trọng tin tưởng, khởi tâm ganh tị, bèn tự khen mình.” Đây có nghĩa là hủy báng kẻ được người khác kính trọng tin tưởng, và cũng hủy báng kẻ bị người khác hủy báng, không những chỉ hủy báng đối phương mà còn tự khen mình. Đại khái là hủy báng tất cả mọi người. Lại nữa, trong bản dịch khác, tuy không nói đối phương được người khác kính trọng tin tưởng, nhưng cũng ẩn hàm ý nghĩa này. (2) Việc được nói: tức là công đức của mình và việc xấu xa của người khác. (3) Tướng trạng của sự khen chê: tức là vì tham cầu lợi dưỡng cung kính, bèn đọc tụng Đại thừa, giảng giải, nói lời đâm thọc, nói với người khác như sau: “Tôi là hành giả Đại thừa, không cầu lợi dưỡng, còn người đó thì ngược lại”. Trong Kinh nói: “Tự khen một cách dối trá rằng mình đắc được thượng nhân pháp”. Nên biết điều giới này không giống như điều giới kế tiếp “Nói dối chứng đắc thượng nhân pháp”. Điều giới này và điều giới trên đều thuộc vào loại “tự khen”. (4) Động cơ phát khởi lời nói: tức là vì tham cầu lợi dưỡng cung kính, thấy người khác được lợi dưỡng cung kính, bèn ôm lòng ganh ghét, như Kinh nói: “Do vì ganh ghét, cho nên tạo bốn loại ngữ nghiệp bất thiện.”
Trong Học Tập Luận của Bồ tát Tịch Thiên dẫn các tội tha thắng trong Bồ Tát Địa, trừ tội tha thắng thứ nhất, ý muốn nói tội tha thắng thứ nhất của Bồ Tát Địa cùng ý nghĩa với ở đây. Thế nhưng đoạn văn của Bồ Tát Địa không có ở trong điều giới này. Hình như phải dẫn toàn bộ đoạn văn đó ra thì mới hợp lý.
Lại nữa, sự tự khen, hoặc chê người này, là do tham cầu lợi dưỡng, hoặc cung kính; hành giả đối với hai sự việc này, chỉ cần tham một việc, đều gọi là có tội, như phần trước đã nói qua.
Những điều khen chê, có thể là hư dối, có thể là chân thực. Trong Kinh nói lược như sau: “Nói lời đâm thọc”, nghĩa là tạo tác nhân duyên nói dối, phạm tội rất nặng. Trát Mục Tra Sơù nói: “Tự mình không có đức, khen dối là có đức, người khác thực không có lỗi, chê dối là có lỗi”. Tân Sớ cũng nói: “Có nghĩa là khen công đức thực và khen công đức không thực, nếu như không phải công đức thực mà tự khen, đây gọi là khen lộn lạo”. Câu trên, khen hai loại công đức thực và không thực, nghĩa là lời khen có thắng có liệt; không có thực công đức mà tự khen, thì gọi là vọng ngữ.
K12. Pháp tha thắng thứ mười hai.
Pháp tha thắng xứ thứ mười hai là gì? Là nói dối chứng đắc thượng nhân pháp.
Trong đây có hai phần: (1) người nghe: tức là người có thể hiểu ý nghĩa của lời nói, (2) tướng trạng của lời nói: tức là nói với người khác rằng: “Tôi đã chứng đắc nghĩa Không thậm thâm trong kinh điển, nay vì lòng từ bi mà giảng nói cho các vị, các vị nên y theo đây mà tu hành.”
Nên biết người đó không thực sự giải ngộ kinh điển, không phải vì ganh ghét, mà vì tâm nhiễm ô nên nói pháp dối trá, làm cho những chúng sinh khác nghe, tin tưởng thọ trì. Người nói lời này, nếu là tỳ kheo Bồ tát thì sẽ cùng lúc phạm hai tội tha thắng. Nhập Bồ Tát Hành Luận Sớ nói: “Chỉ dùng miệng tụng, lại tự cho rằng mình hiểu ý nghĩa thậm thâm, bèn nói cho người khác, khiến cho họ họ trì, thì gọi là tội căn bổn.” Nếu nói như vậy, là tương phản với ý nghĩa của kinh.
K13. Pháp tha thắng thứ mười ba.
Pháp tha thắng thứ mười ba là gì? Là cưỡng đoạt tài vật của Tam bảo.
Các vị đại thần, tể tướng, ỷ vào thế lực của nhà vua, xử phạt, giam giữ tỳ kheo, đoạt tài vật của họ, lại còn sai khiển các tỳ kheo gian ác trộm cắp tài vật của tăng (cá nhân), của tăng già (thập phương tăng) và tứ phương tăng (thường trụ), vật của tốt đỗ ba (Phật và pháp), đem đến cung hiến cho họ, sau khi được đồ vật bèn đem dâng cho nhà vua, vua và quần thần đều phạm tội căn bản.
Trong đây, tội căn bản giam giữ, xử phạt sa môn nhiếp vào tội căn bản thứ hai, còn tội căn bản cướp đoạt tài vật Tam bảo nhiếp vào tội căn bản thứ nhất. Đây là tội căn bản “Dùng sức mạnh cưỡng đoạt đem cung hiến cho người khác”, nghĩa là tội căn bản thứ nhất là tự mình trộm cắp hoặc bảo người khác trộm cắp, còn tội căn bản này tức là tội xử phạt giam giữ sa môn, đoạt tài vật của họ, sai khiến họ phải làm việc trộm cắp, hoặc bảo người khác trộm cắp rồi tự mình hưởng thọ tài vật đó. Trong đây đồ vật bị cưỡng đoạt hoặc thuộc về một tỳ kheo, hoặc hai tỳ kheo, hoặc ba tỳ kheo. Phần còn lại như phần trên đã nói, tất cả đều cần phải biết.
K14. Pháp tha thắng thứ mười bốn.
Pháp tha thắng thứ mười bốn là gì? Tức là kiến lập các pháp ác, v.v...
Trong đây có hai phần: (1) Thiết lập chế định ngược với chánh pháp. Người thiết lập chế định này là tỳ kheo tu hành như pháp; pháp được chế lập, là do vị tỳ kheo đó dùng tâm tổn hại, thiết lập chế định ngược với chánh pháp, làm cho các tỳ kheo khác, phế bỏ việc tu tập xa ma tha (chỉ), tỳ bát xá na (quán), sinh khởi nhiều phiền não. (2) Cưỡng đoạt tài vật của người tu chánh định. Trong đây có bốn phần: (a) Chủ nhân của tài vật: tức là các tỳ kheo siêng năng tu hạnh viễn ly; vị chủ nhân, nếu là thánh nhân, hoặc nếu ở trong tăng đoàn, thì đây gọi là tội tha thắng thứ nhất. Trong điều giới này, chủ nhân của tài vật, không phải là thánh nhân, không phải là vị tỳ kheo sống trong tăng đoàn từ bốn người trở lên. (b) Tài vật: tất cả đồ dùng của họ đều gọi là tài vật. (c) Tâm ý: đối với đối phương có tâm sân hận. (d) Gia hành: đối với tài vật của đối phương, không cho mà lấy, lấy xong đem cho những người giả tu hành.
Như trong Kinh có nói: “Hai người đó đều phạm vào tội căn bản”. Nói hai người đó, tức là (1) nhà vua, (2) vị tỳ kheo nói lỗi lầm của người tu chánh hạnh. Có chỗ nói người giả tu hành cũng phạm tội căn bản. Điều này trái ngược với ý của kinh.
“Như vậy, đều là tội căn bản”, nghĩa là từ tội tha thắng thứ bảy đến thứ mười bốn, sau mỗi bài kệ, phải thêm một câu “như vậy, đều là tội căn bản”. Tám tội nặng này, tức là trong Kinh nói tám tội của hành giả Đại thừa sơ cơ.
“Đều là nhân của đại địa ngục”, tức là các tội nghiệp đã tạo.
“Trong mộng sám hối diệt chư tội”, tức là chỉ điểm phương tiện giúp cho người phạm tội được phục hồi sự thanh tịnh.
Hỏi: Có những tội nặng căn bản như vậy, phải nên như bài kệ nói: “Phạm giới bậc thượng phải thọ lại”, tại sao lại bắt phải sám hối trừ diệt tội chướng phục hồi sự thanh tịnh?
Trả lời: Nếu có thể sám hối diệt trừ tội phạm giới, theo như Kinh nói, có thể ra khỏi ác đạo. Thế nhưng, sau khi tội chướng được trừ diệt, thanh tịnh trở lại, vẫn phải thọ lại giới pháp. Những nghĩa lý như vậy, nên xem Học Tập Luận dẫn Phương Tiện Thiện Xảo Kinh nói: “Phạm tội căn bản có thể phục hồi thanh tịnh”.
Lại nữa, nghĩa lý này còn có nhiều cách thuyết minh khác, nghĩa là tội đã phạm, nếu không thuộc về phiền não bậc thượng, thì sẽ thuộc về tội tha thắng do phiền não bậc trung, hạ, và như vậy, do sám hối diệt tội, có thể làm hành giả phục hồi thanh tịnh. Điều này phần sau sẽ nói tường tận hơn.
“Rốt ráo, thoái thất tâm Bồ đề”, nghĩa là xả bỏ nguyện tâm. Tội căn bản này, như Phương Tiện Thiện Xảo Kinh nói. Người phạm tội căn bản này, bắt buộc phải là một người đầy đủ giới Bồ tát. Sát na đầu tiên, thoái thất tâm đó, vẫn chưa gọi là mất giới. Đến sát na thứ hai, thì mới mất giới Bồ tát, chứ không phải chỉ ngẫu nhiên thoái thất tâm đó mà không được gọi là Bồ tát. Tương tự như trường hợp thoái thất Bồ đề tâm, nếu Bồ tát sinh khởi tà kiến thì cũng sẽ mất giới.
Hai tội này, nếu như sinh khởi, thì phạm tội căn bản, không cần biết có phải là phạm tội với tâm phiền não bậc thượng hay không. Còn những trường hợp khác thì phải kể vào.
“Bỏn sẻn không khởi lòng thương xót, người đến cầu xin, không bố thí “, hai câu này có nghĩa là có người đến xin tài vật, không bố thí tài vật, có người đến hỏi pháp, không bố thí pháp.
“Trong lòng ôm ấp nỗi oán hờn, người đến van lơn, không tha thứ, giận dữ đánh đập chư hữu tình”, ba câu này so với bản dịch của Học Tập Luận có chỗ sai khác, như phần trên đã nói.
“Do tâm nhiễm dục, theo người khác, ham thích diễn nói pháp tương tự”, hai câu này, câu đầu, như trong Mâu Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận, dẫn bản dịch khác của bộ luận này nói: “Do sự nhiễm dục, và theo người”, văn nghĩa có vẻ thích đáng hơn. Lại như Bồ Tát Địa nói: “Đối với pháp tương tự, hoặc tự mình tin hiểu, hoặc bị người khác lay chuyển”, như vậy, hai câu hợp lại, có hai cách giải thích: (a) do nhiễm dục mà nói pháp tương tự, đó là do tự mình có kiến giải phi lý, (b) do tùy thuận người khác mà nói pháp tương tự, đó là bị người khác lay chuyển.
|