Phần 5
D3. Phòng hộ giới pháp. Có hai phần:
E1. Nói tổng quát về phòng hộ giới.
Vị Bồ tát an trụ trong Bồ tát tịnh giới, cần phải khéo léo thẩm xét, hiểu rõ các tướng thủ xả, điều nào Bồ tát phải nên làm, điều nào Bồ tát không nên làm. Sau khi đã thẩm xét, hiểu rõ rồi, bèn theo đó mà siêng năng tu học, để hoàn thành tác nghiệp chân chánh. Lại phải chuyên tâm gắng sức học tập tạng Tố đát lãm (kinh) của Bồ tát, cùng các sớ giải, tùy theo sự học hỏi mà cố gắng tu tập. Học Tập Luận nói:
Đại thừa Phương quảng dạy,
Bồ tát tịnh luật nghi.
Lại nói:
Không lìa thiện tri thức,
Thường thấy, nghe kinh điển.
Phải nên y vào những phương tiện đã nói ở phần trên mà khéo léo phòng hộ giới Bồ tát, lại không nên xả bỏ thiện tri thức cùng các vị Bồ tát tu tập đúng pháp. Đây là phương tiện thù thắng để hộ trì giới luật. Lại phải nên học rộng các kinh điển như Đại Tập, v.v..., hơn nữa, lại phải nên học tập Bồ Tát Địa, Học Tập Luận. Nếu không chịu học tập thọ trì giới phẩm, thì đối với Bồ tát học xứ sẽ trở nên mù mờ, đã vậy, lại dối xưng là hành giả Đại thừa, lừa dối người đời, thì sẽ bị các vị thọ trì kinh điển Đại thừa, khéo léo tìm cầu thắng tuệ giải, ruồng bỏ. Nếu đã ở nơi các vị thiện tri thức lắng nghe Bồ tát giới xong, phải nên tinh tiến tu học những điều đã thọ, đừng để giống như kẻ nghèo, đếm tiền giùm cho người khác. Kinh Pháp Cú nói:
Tuy nói năng khéo léo,
Phóng dật không tu hành,
Như mục đồng đếm trâu,
Không xứng làm sa môn.
Tuy không khéo nói năng,
Vì tu hành đúng pháp,
Xa lìa tham sân si,
Xứng làm bậc sa môn.
Lại như Nhập Bồ Tát Hạnh nói:
Pháp, nên cung kính hành,
Chỉ nói không ích gì!
Nếu chỉ đọc sách thuốc,
Bệnh tật làm sao lành? (Phẩm thứ năm, kệ 109)
Hỏi: Nếu vậy, người mới bắt đầu vào Đại thừa, đối với các học xứ trong Tố đát lãm, phải nên học tập bao nhiêu?
Trả lời: Hành giả mới vào Đại thừa, những phần mà Đức Như Lai chính thức cấm đoán, thì không nên học tập; hoặc giả, tuy Đức Như Lai không cấm đoán, nhưng chưa thích hợp với hành giả, thì cũng không nên tu tập liền. Ngoài hai phần này ra, tất cả các học xứ khác của Bồ tát, nếu như không tu tập, nên biết là sẽ có tội. Điều này cũng giống như Học Tập Luận nói: “Phàm các Bồ tát, đối với những phần mà Đức Như Lai chánh thức cấm chỉ, hoặc những phần chưa thích hợp với trình độ hiện thời của họ, thì không nên học tập. Như vậy, Bồ tát Đại thừa sơ cơ, không nên tu học hai phần này, ngoài ra tất cả các pháp môn khác đều phải nên tu học.”
Lại nữa, trừ hai chỗ không nên học tập vừa nói, đối với những học xứ khác, nếu như chưa đủ trình độ thọ trì, cho nên chưa học tập, cũng không có tội.
Lại như, Học Tập Luận nói: “Vì muốn thành tựu một học xứ, đối với học xứ khác, tuy không phòng hộ cũng không có tội. Ví như muốn thực hành bố thí rộng lớn, thì giới luật có thể trì hoãn, còn đối với sự bố thí thì không được trì hoãn. Điều này trong kinh Vô Tận Ý có nói đến.”
Lại như, trong kinh Thập Địa nói: “Đây không có nghĩa là đối với các học xứ khác không cần tu học, mà phải tùy theo năng lực mà nỗ lực tu học.”
Lúc đang chánh thức tu tập học xứ, hoặc có sự vi phạm (có tội), hoặc không có sự vi phạm (không có tội).
(1) Có hay không có sự vi phạm:
a/ Có sự vi phạm: Hoặc giả, muốn làm cho tất cả hữu tình, thân tâm đều được an lạc, xa lìa sự ưu khổ, thế nhưng không chịu dùng tâm chân thực chí thành, ba nghiệp tinh tiến, mà lại khởi tâm lơ là, dù trong một sát na, đây gọi là có tội.
Hoặc giả, lúc đang tinh tiến tu tập, không chịu tích tập trợ phẩm tư lương, không nỗ lực đối trị phiền não, mà lại lơ là giống như trên, cũng gọi là có tội.
Hoặc giả, muốn đối trị sự ưu khổ lớn, mà lại không chịu nhẫn thọ những ưu khổ nhỏ, hoặc giả, muốn thành tựu những nghĩa lợi lớn, mà không dám xả bỏ những nghĩa lợi nhỏ, những sự việc như vậy, dù trong một khoảng sát na, sinh khởi tâm lơ là, cũng gọi là có tội.
b/ Không có sự vi phạm: Hoặc giả, chưa đủ sức lực, chưa thể tu học, hoặc giả, đối với các học xứ không phải là “chế giới”, cũng không phải là chỗ Bồ tát cần phải chánh thức hành trì, nên chưa tu học, thì không có tội. Nếu kẻ nào cưỡng bức người khác tu học các học xứ này, thì kẻ cưỡng bức đó cũng gọi là có tội.
Các tội này, chỉ cần dùng phương pháp sám hối thông thường, không cần dùng tác pháp sám hối, thì tội cũng được tiêu trừ, trở lại thanh tịnh. Nếu có các học xứ có thể học tập, nhưng lại không chịu siêng năng học tập, cũng gọi là có tội. Những loại tội này có thể gọi là tính tội, giống như trường hợp “đã biết mà cố ý vi phạm”.
(2) Thế nào gọi là có tội? Có hai trường hợp: (a) không chuyên tâm suy ngẫm mà vi phạm, nghĩa là không tùy sức lực của mình, suy ngẫm kỹ lưỡng là có hợp lý hay không, mà vội vàng tiến hành, hoặc gặp nghịch cảnh mà đình chỉ, hoặc là bỏ phế. Phải biết đây là có tội. (b) Tuy suy ngẫm nên làm hay không nên làm mà vẫn vi phạm, nghĩa là tuy suy ngẫm kỹ lưỡng việc tiến hành, hoặc đình chỉ, hoặc bỏ phế, có hợp lý hay không, thế nhưng, đối với điều nên làm lại không chịu làm, cũng gọi là có tội. Nếu làm những việc điên đảo, nhẫn đến phạm những điều mà hạng người hạ tiện chê bai, cũng gọi là có tội, như phẩm đầu của Học Tập Luận có nói đến.
Về việc vi phạm những điều mà chư Bồ tát nên làm hoặc không nên làm, Bồ Tát Giới Thập Nhị Tụng nói sơ lược như sau:
Đối với chính mình và người khác,
Nếu có lợi lạc, phải nên làm,
Khổ, nhưng có lợi, cũng nên làm,
Vui, nhưng không lợi, chớ nên làm.
“Có lợi lạc”, nghĩa là làm cho mình, người không có sự nhiễm ô, cũng không có tội cấu, trong đời vị lai, thọ quả báo an lạc. “Vui (an lạc)”, nghĩa là thọ dụng sự an lạc, nếu mình hoặc người khác, hiện tiền được an lạc, trong tương lai lại được lợi ích, thì đây là điều nên làm; nếu mình hoặc người khác, hiện tiền bị khổ, trong tương lai lại không có lợi ích, thì đây là điều không nên làm; nếu như hiện tiền tuy thọ khổ, nhưng trong tương lai lại có lợi ích, thì đây cũng là điều nên làm.
Ví như người hiền, quở trách hành động ác và hành vi hạ liệt, ngăn chận không cho hiện hành, điều này, hiện tiền có vẻ như khổ, nhưng trong tương lai lại có lợi; ví như thuốc hay, vị tuy không ngọt, tạm thời có cảm giác khổ, nhưng lại có lợi ích đối với căn bệnh, hoặc như tà dâm, hiện tại có vẻ như vui sướng, nhưng trong tương lai tăng trưởng nhiều sự khổ, hoặc như cơm có thuốc độc, tuy có vẻ như ngon ngọt, nhưng vì thuốc độc có thể làm hại, cũng phải nên ngăn chặn, đoạt lấy (không cho người khác ăn). Những ý nghĩa rộng rãi như vậy, trong Bồ Tát Địa, các phẩm về lợi mình lợi người đều có giảng nói.
E2. Nói chi tiết về phòng hộ giới. Có sáu phần:
F1. Các tội nên xả. Có hai phần:
a/ Các vị Bồ tát nào sinh khởi tội lỗi? Luận nói: “Lại nữa, nếu như hành giả bị cuồng loạn, hoặc bị sự khổ áp bức nặng nề, hoặc chưa từng thọ Bồ tát tịnh giới luật nghi, nên biết, trong tất cả trường hợp này, giả sử có phạm giới, đều không gọi là vi phạm.” Điều này có nghĩa là Bồ tát nên an trụ trong hai pháp: (1) không xả tịnh giới mà mình đã thọ, (2) vui thích an trụ trong tịnh giới đã thọ.
b/ Tội có mấy loại? Tội có hai loại. Giới Nhị Thập Tụng Sớ nói: “Trong Bồ tát giới, tổng quát có hai loại tội: (1) tha thắng, (2) vi phạm, không giống như tỳ kheo giới có năm loại tội.” Tân Sớ và Mâu Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận cũng nói chỉ có hai phẩm tội này. Trong luận Du Già, ý nghĩa cũng giống như vậy.
Tây tạng có một vị pháp sư, cùng với quyển Nan Thích của ngài Hắc A xà lê, cho rằng: “Trong Bồ tát giới, những điều cần phải phòng hộ, có ba loại: (1) tội tha thắng, (2) tội thô (thâu lan giá), và (3) tội vi phạm.” Điều này không hợp lý. Như các vị ấy nói, nếu dùng phiền não nhuyễn (nhẹ) trung phẩm phạm tội tha thắng, thì gọi là tội thô. Điều này tương phản với những điều mà Luận Du Giaø đã nói, vì trong Luận Du Già chỉ nói đến tội tha thắng và tội vi phạm. Lại nữa, dùng phiền não nhuyễn (nhẹ) trung phẩm phạm tội tha thắng, giới tính tuy thuộc về vi phạm, nhưng phẩm loại lại thuộc về tha thắng, nghĩa là nếu phạm tội tha thắng, không luận là tội thô hay tội vi phạm, nhất luật đều phải nên nhiếp vào tội tha thắng.
G1. Các tội tha thắng. Có năm phần:
H1. Tự tính của tội tha thắng.
I1. Thuyết minh của Luận Du Già.
Bồ tát an trụ trong giới luật nghi, có bốn pháp tha thắng xứ. Phân làm hai chi.
J1. Thông chi.
Trong phần phân biệt ba loại phiền não phạm giới ở phần sau sẽ giảng.
J2. Biệt chi. Có bốn phần:
K1. Vì lợi dưỡng cung kính, khen mình chê người:
Giới văn: Nếu Bồ tát, vì tham cầu lợi dưỡng cung kính, tự khen ngợi mình, hủy nhục, chê bai người khác, đây gọi là phạm tội tha thắng thứ nhất.
Trong đây có ba phần: (1) đối tượng, (2) lời nói ra, (3) vì sao phát khởi lời khen chê.
(1) Đối tượng: đối tượng của pháp tha thắng này, không phải là chính mình, mà là người cùng loại với mình, và hơn nữa, đối phương có thể hiểu ý mình nói. Trong Luận Du Già tuy không có đoạn văn này, nhưng thực có ý nghĩa như vậy.
(2) Lời nói ra: tức là nói công đức của mình và lỗi lầm của đối phương. Đối với mình thì ca ngợi, tự đắc; đối với đức hạnh và sự khả kính của đối phương thì chê bai, hủy báng.
(3) Vì sao phát khởi lời khen chê. Có bốn phần: (a) lợi dưỡng cung kính, (b) lòng tham cầu, (c) sự khác biệt giữa lợi dưỡng và cung kính, (d) thẩm xét lời nói ra có phải vì do tham muốn cung kính và lợi dưỡng hay không.
(a) Lợi dưỡng cung kính: nghĩa là các mối lợi dưỡng như y phục, thực phẩm, phòng ốc, xe cộ, và các sự cung kính như chưng dọn chỗ ngồi, sửa soạn giường gối.
(b) Lòng tham cầu: sự tham cầu lợi dưỡng cung kính, không phải vì để cúng dường Tam bảo, hay vì thương xót kẻ hạ liệt, cứu tế người bần khổ, mà là do bổn tính ham muốn, tăng trưởng sự tham lam, nên mong cầu sự cung kính cúng dường.
(c) Sự phân biệt giữa lợi dưỡng và cung kính: mối lợi dưỡng mong cầu, là những tài vật không phải của mình đang có; nếu như không tham cầu lợi dưỡng, ắt sẽ không làm công việc khen mình chê người; sự cung kính mong cầu, tức là làm cho tín đồ cung kính tin tưởng mình; đem các lợi dưỡng cho tín đồ của mình cùng hưởng.
(d) Thẩm xét lời nói ra có phải vì do sự tham muốn cung kính và lợi dưỡng hay không: đối với hai sự lợi dưỡng, cung kính, chỉ cần tham một thứ, mà phát khởi sự khen mình chê người, chứ không cần phải tham cả hai mà phát khởi sự khen chê. Khi thốt ra lời khen chê, nếu đối phương hiểu rõ ý mình muốn nói, thì phạm vào giới tha thắng thứ nhất.
Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Tân Sớ nói: “Đối phương là người có công đức, và là đối tượng cung kính của những hữu tình khác.” Trát Mục Tra Sớ cũng cùng một ý, cho rằng đối phương là người có công đức. Hư Không Tạng Kinh nói có hai tướng, như phần sau sẽ đề cập.
Như Tân Sớ nói: “Tham cầu lợi dưỡng cung kính, tức là tham cầu lợi dưỡng y phục, cùng sự cung kính cúng dường các vật quý báu, đối với các việc như vậy sinh khởi lòng tham luyến tăng thượng.” Trát Mục Tra Sớ cũng nói: “Lợi dưỡng, tức là y phục, tiền tài, bảo vật, còn cung kính, tức là sự tôn kính hầu hạ, dâng hiến pháp tòa, v.v...”
K2. Bỏn sẻn không bố thí tài vật, Phật pháp:
Giới văn: Nếu Bồ tát, hiện đang có tiền của, thấy người nghèo khổ không nơi nương tựa, đến xin tài vật, nhưng vì bỏn sẻn, không sinh lòng thương xót bố thí, hoặc giả, có người đến cầu pháp, do tính bỏn sẻn, tuy thông hiểu Phật pháp, nhưng không chịu giảng nói, đây gọi là phạm tội tha thắng thứ hai.
Trong đây có bốn phần: (1) người đến xin, (2) vật được xin, (3) chỗ xin tài vật, Phật pháp, (4) sự khởi tâm không muốn bố thí.
Người đến xin: Có sớ giải cho rằng người đến xin “hoặc là người khổ sở không có tài vật, hoặc là người bần cùng không thức ăn uống, hoặc người bị mất đi người chủ gia đình, không còn ai để nương tựa, hoặc là người không có bạn bè giúp đỡ, không nơi nhờ vả.” Vì thiếu thốn hai món cần thiết (tài vật, Phật pháp), ngoài Bồ tát (người bố thí) ra, không còn ai có thể giúp đỡ, cho nên bọn họ hết lòng đến cầu xin, và hiện đang đứng trước mặt Bồ tát. Trát Mục Tra Sớ nói: “Đây là người đến xin đang đứng trước mặt”.
Vật được xin: là những vật không phải là vũ khí, hoặc những món độc hại, hoặc những vật không thích đáng, hoặc vật không còn có thể dùng được, hoặc có thể gây tổn hại.
Chỗ xin tài vật, Phật pháp: Tân Sớ nói: “Là người đang có tiền của, hoặc thông hiểu Phật pháp, đây gọi là đang có”.
Sự khởi tâm không muốn bố thí: nghĩa là bị tâm tham lam bỏn sẻn che lấp, nhất định không chịu bố thí; như Luận Du Già nói: “Không khởi lòng thương xót, nên không tu tập tài thí, vì tâm bỏn sẻn Phật pháp, nên không bố thí Phật pháp.” Tân Sơù và Trát Mục Tra Sớ đều cho rằng do tâm bỏn sẻn nên không chịu bố thí tài vật và Phật pháp. Giới Nhị Thập Tụng cũng đồng với quan điểm này. Tây tạng có pháp sư nói: “không những tự mình bỏn sẻn nhất định không bố thí, mà còn làm cho người xin cảm thấy tuyệt vọng”. Thế nhưng, tham khảo các bộ luận Ấn độ, đều không thấy nói đến điều này, vả lại nghĩa lý cũng không phù hợp.
K3. Đánh đập hữu tình, không xả oán kết:
Giới văn: Nếu Bồ tát, nuôi dưỡng trong lòng những sự phẫn hận, do nhân duyên này, không những nói ra lời ác, lại còn vì sự giận dữ, bèn dùng tay, chân, ngói, gạch, dao, gậy, đánh đập làm tổn thương, khổ não cho người khác. Do vì ôm trong lòng sự phẫn hận mãnh liệt cho nên đã xâm phạm đối phương; đối phương đến van lơn, cầu xin tha thứ, lại không chấp nhận, không chịu buông xả sự oán hận, đây gọi là phạm tội tha thắng thứ ba.
Trong đây có hai phần: (1) đánh đập, (2) không chấp nhận sự van lơn cầu xin tha thứ.
1/ Đánh đập: Có hai loại, (a) ưa thích: nếu Bồ tát đối với các hữu tình, do sự phẫn nộ, bèn lên tiếng chửi rủa nhục mạ, không những không chịu xả bỏ mà còn tăng trưởng sự oán hận, do đây, bị sự phẫn hận che mờ tâm trí, (b) gia hành: do không xả bỏ oán hận, đối với hữu tình khác, bèn dùng tay chân, hoặc dùng ngói gạch đập đánh, hoặc dùng vũ khí làm tổn hại, hoặc dùng gậy đánh, dây trói làm tổn hại. Loại hữu tình nào bị làm tổn hại, điều này trong Luận Du Già không nói rõ ràng, nhưng vẫn phải biết rằng, đối phương là đồng loại với mình, là người có tri giác. Thế nào gọi là chửi rủa? Nghĩa là nói lời ác độc và đối phương cảm nhận được. Thế nào là đánh đập, điều này, Học Tập Luận trong phần phạm căn bổn tội có nói rõ ràng.
2/ Không chấp nhận sự van lơn cầu xin tha thứ: có bốn phần, (a) người đến van lơn cầu xin tha thứ, (b) tướng trạng của sự van xin, (c) phát khởi sự phẫn nộ, (d) không chấp nhận sự van xin.
a/ Như Tân Sớ và bộ sớ giải của ngài Tối Thắng Tử đều nói: “Đối phương (kẻ xúc phạm) hiện nay đến cầu xin tha thứ sự xúc phạm của họ đối với Bồ tát”, nghĩa là đối phương đó đã lỡ xúc phạm, nay đem tâm chí thành đến cầu xin tha thứ.
b/ Tướng trạng của sự van xin: đối phương đúng lúc, đúng như pháp, đến trước mặt Bồ tát mà cầu thỉnh sự nhẫn thọ, tha thứ.
c/ Phát khởi sự phẫn nộ: Bồ tát đối với sự xúc phạm của đối phương, trong tâm ôm ấp một sự oán hận, căm hờn mãnh liệt.
d/ Không chấp nhận sự van xin tha thứ: Bồ tát không nhẫn thọ, không thèm nghe lời van xin của đối phương, không chịu xả bỏ tâm oán hận.
K4. Phỉ báng Bồ tát tạng, nói pháp tương tự:
Giới văn: Nếu Bồ tát, phỉ báng pháp tạng của Bồ tát, ham thích diễn nói, khai thị, kiến lập pháp tương tự với Chánh pháp; đối với pháp tương tự này, hoặc tự mình tin hiểu, hoặc bị người khác xúi dục, đây gọi là phạm tội tha thắng thứ tư.
Trong đây có hai phần: (1) phản bội Đại thừa, (2) nói pháp tương tự.
1/ Phản bội Đại thừa, lại có hai phần: (a) chỗ bị phản bội, tức là phỉ báng tất cả hai loại pháp tạng thâm sâu rộng lớn của Bồ tát mà Đức Phật tuyên thuyết; (2) tướng trạng của sự phản bội, như phần dưới nói về tướng trạng của sự hủy báng.
2/ Nói pháp tương tự, cũng có hai phần: (a) Pháp được giảng nói: Các bộ sớ giải đều chưa nói rõ là loại pháp nào, chỉ có Trát Mục Tra Sớ nói là pháp thiên lệch (Tiểu thừa) và pháp khiếm khuyết (ngoại đạo), thế nhưng Luận Du Già nói là pháp tương tự với chánh pháp, hoặc pháp ngoại đạo. Nếu không phải là pháp tương tự với Đại thừa, ắt phải là tất cả pháp không thanh tịnh khác. (b) Tướng trạng của sự giảng nói: Đem sự ưa thích của mình, nói cho người khác nghe, làm cho họ chuyển hướng theo đường lối của mình.
Hợp chung các ý nghĩa trên, Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng nói:
Nếu sinh khởi phiền não mãnh liệt,
Ắt sẽ hủy hoại tất cả giới,
Phải biết phạm tội có bốn loại,
Ý Phật muốn nói “đồng tha thắng”:
(i) Do vì tham lợi dưỡng cung kính,
Cho nên khen mình mà chê người,
(ii) Đối người nghèo khổ không chỗ nương,
Bỏn sẻn tài, pháp, không bố thí,
(iii) Người cầu tha thứ, không chấp nhận,
Ôm lòng phẫn hận, còn đánh đập,
(iv) Phản bội Bồ tát tạng Đại thừa,
Ưa thích giảng nói pháp tương tự.
Ngài Bồ Đề Hiền giải thích như sau: “Phiền não mãnh liệt, nghĩa là phiền não bậc thượng; phạm tội, nghĩa là sự phạm giới của một vị Bồ tát còn đầy đủ tịnh giới; tha thắng, nghĩa là hủy phạm giới cấm, bị phiền não thắng mình. Đồng tha thắng, nghĩa là chỉ có nguyên nhân của sự phạm giới là tương đồng với các tỳ kheo phạm tội tha thắng (ba la di), chớ không phải tất cả đều tương đồng, chẳng hạn như các tỳ kheo phạm tội tha thắng, trong hiện đời, không được thọ lại giới tỳ kheo, còn các vị Bồ tát, nếu phạm tội tha thắng, trong hiện đời, vẫn có thể được thọ lại giới Bồ tát.”
Hải Vân Sớ nói: “(1) Như các vị Thanh văn, tham pháp dâm dục, làm hủy hoại mình và người, tức là phạm tội tha thắng; tương tự, Bồ tát tham luyến lợi dưỡng cung kính, làm hủy hoại mình và người, cũng là phạm tội tha thắng. (2) Như các vị Thanh văn, tham muốn tiền của của người khác, khởi tâm trộm cắp, gọi là phạm tội tha thắng; tương tự, Bồ tát có tiền của, Phật pháp mà không chịu bố thí, cũng gọi là phạm tội tha thắng. (3) Các vị Thanh văn giết người, tức là phạm tội tha thắng; tương tự, Bồ tát khởi tâm hiềm hận, dùng tay chân làm tổn não hữu tình, hoặc người khác đã làm tổn hại đến Bồ tát, hiện nay họ đến van xin sám hối, nhưng Bồ tát không chịu lắng nghe, không chịu tha thứ, đây cũng là phạm tội tha thắng. (4) Các vị Thanh văn nói dối chứng được quả Thánh, tức là phạm tội tha thắng; tương tự, Bồ tát có chánh pháp, không chịu giảng nói, còn quay lại hủy báng chánh pháp, nói đó không phải là chánh pháp, đây cũng gọi là phạm tội tha thắng.” Có bộ sớ giải khác nói: “Những điều trong đây nói, tương đồng với các loại nhân tướng của tội tha thắng của Thanh văn, cho nên gọi là đồng tha thắng.”
Về số mục của tội tha thắng, ở Tây tạng có pháp sư nói có tám, thế nhưng, Luận Du Già chỉ nói có bốn tội tha thắng. Giới Nhị Thập Tụng cũng nói: “Nên biết tội có bốn loại.” Nếu nói có tám, điều này không hợp lý. Nếu như vị ấy nói có tám tội tha thắng, ắt là trong mỗi tội tha thắng lại chia làm hai tội, chẳng hạn, trong tội tha thắng thứ nhất, tự khen mình là một tội, chê bai người khác là một tội.
Lại nữa, ở Tây tạng có pháp sư cho rằng: “Trong mỗi tội tha thắng, như tự khen mình, chê người, v.v..., lại chia làm hai tội, tức là thành tám tội, cộng thêm bốn tội tha thắng của biệt giải thoát giới, tổng cộng là mười hai tội, giống như vì tham chút dầu ăn mà cầm gậy đánh người, như vậy vì tham lợi dưỡng cung kính mà khen mình chê người còn là tội tha thắng, huống chi là tà dâm. Đây cũng là bổn ý của bản sớ giải của ngài Hải Vân.” Thế nhưng, trong quyển Bồ Tát Địa Sớ của ngài Hải Vân hoàn toàn không có ý nghĩa này.
Như Giới Phẩm Sớ của ngài Trát Mục Tra nói: “Nếu như không tham lợi dưỡng cung kính, v.v..., càng không nên phạm bốn tội tà dâm, v.v...”, ở đây, chỉ có nghĩa là không phạm tội tha thắng của giới biệt giải thoát, chứ không có nghĩa là tội tha thắng của biệt giải thoát giới là tội tha thắng của Bồ tát giới.
Những điều vừa thuật ở trên, đều do các pháp sư tự họ nghĩ ra, chứ chưa hề thấy nói đến trong các kinh luận.
Nên biết, nói có bốn tội tha thắng là nói đến các tội tha thắng do sự khởi tâm mà phạm, nghĩa là: (1) đối với lợi dưỡng cung kính, khởi tâm tham cầu, (2) đối với tài vật, khởi tâm bỏn sẻn, (3) đối với hữu tình, khởi tâm tổn hại xúc não, (4) đối với Chánh pháp của Phật, khởi tâm ngu si tà kiến. Đây gọi là bốn tội tha thắng.
Nói có tám tội tha thắng, là nói đến các tội tha thắng do sự gia hành (tạo tác) mà phạm, nghĩa là: (1) tự khen ngợi mình, (2) chê bai người khác, (3) không bố thí tài vật, (4) không bố thí Phật pháp, (5) đánh đập hữu tình, (6) không chấp nhận sự sám hối, (7) phản bội Chánh pháp, (8) nói pháp tương tự. Đây gọi là tám tội tha thắng.
Do đây có thể nói, tuy nói bốn tội tha thắng, nhưng cũng không ngại nói có tám tội. Lại như, Mâu Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận nói: “Trong Bồ tát tạng, nói có bốn loại căn bản trọng tội.” Lại nói: “Bốn tội căn bản như (1) tự khen mình chê người, v.v..., mỗi tội lại có thể phân làm hai phần, thành ra có tám loại căn bổn trọng tội.” Như trong Luận Du Già cũng phân biệt có tám loại tội như khen mình, chê người, v.v...
Sớ của ngài Hải Vân, đối với tội tha thắng thứ hai, cũng phân làm hai tội: “(1) có người nghèo khổ đến xin, không bố thí tài vật, (2) có người đến cầu pháp, không chịu bố thí pháp, cả hai đều là tội tha thắng. Như vậy, phân biệt mà nói, ba tội tha thắng kia cũng tương tự như vậy.” Ngài Vô Úy Sinh cũng nói có tám. Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận Sớ nói: “Ở đây, Bồ tát Vô Trước, rõ ràng có ý muốn nói có tám tội tha thắng.” Ngài Atisa cũng y theo các vị cổ đức mà nói có tám. Cho nên ở đây nói có tám tội tha thắng.
Lại nữa, Học Tập Luận và Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng, đối với tội tha thắng thứ ba, hình như đều nói có một tội, đây là do các bản dịch có chỗ hơi khác biệt, nhưng nếu khảo sát ý nghĩa, thực sự là có hai tội. Giới Nhị Thập Tụng Cựu Sớ và Bồ Tát Địa, cũng đồng quan điểm này.
Lại như, trong Nhập Bồ Tát Hành Luận Sớ của ngài Trí Tuệ Sinh, dẫn chứng Học Tập Luận, nói:
Do phẫn nộ, đánh đập hữu tình,
Trong lòng ôm oán hờn mãnh liệt,
Không chịu thọ nhận sự sám hối.
Đối với tội tha thắng này, phân biệt nói thêm, ví như trong phần tội vi phạm (tội khinh) có nói:
Người đến cầu pháp, không nói pháp,
Người đến cầu tài, không thí tài,
Có người xúc phạm, liền trả đũa,
Người đến sám hối, không thọ nhận,
Ghét bỏ, hủy báng Bồ tát tạng,
Chưa rành Phật pháp, học thế gian,
Ưa thích, siêng tu pháp ngoại đạo.
Những việc như vậy, đều gọi là tội vi phạm. Nay nói là tội tha thắng, tuy có sự tương vi, nhưng cũng không có lỗi.
Đây có ý muốn nói, như hai pháp không bố thí tài vật, không bố thí Phật pháp, nếu do tâm bỏn sẻn phát khởi, thì gọi là tội tha thắng, còn nếu không do tâm bỏn sẻn phát khởi, thì gọi là tội vi phạm.
Lại như, Tân Sớ nói: “Như sự không bố thí pháp, do động cơ phát khởi khác biệt mà tội trạng có sự sai biệt. Đối với các điều giới khác, cũng do động cơ phát khởi khác biệt mà có tội trạng sai biệt.”
Đây cũng như trong trường hợp đánh người khác, nghĩa là nếu bị người đánh mà đánh lại, thì gọi là tội vi phạm, còn nếu không phải vì trả đũa mà đánh người khác, thì gọi là tội tha thắng. Tương tự, trong trường hợp không thọ nhận sự sám hối, nếu không phải vì hiềm hận, thì gọi là tội vi phạm, còn nếu như có tâm hiềm hận, thì gọi là tội tha thắng.
Phản bội Đại thừa, cũng có hai tội vi phạm và tha thắng. Như Trát Mục Tra Sớ nói: “Như vậy, so với tội phỉ báng Bồ tát tạng ở phần trên có gì khác biệt? Nghĩa là phần trước (phạm tội tha thắng) là hủy báng tất cả hai loại pháp tạng Đại thừa thâm sâu quảng đại của Bồ tát, còn ở đây (phạm tội vi phạm) là chỉ đối riêng tạng Tố đát lãm (kinh), không khởi tâm tin hiểu mà sinh khởi sự hủy báng.” Thế nhưng, trong Luận Du Già chưa thấy nói rằng nhất định là chỉ hủy báng riêng tạng Tố đát lãm.
Tinh tiến học tập luận điển ngoại đạo, cũng gọi là tội vi phạm. Đây có hai loại: (1) Hiện có Phật pháp, đối với Phật pháp chưa nghiên cứu học tập kỹ lưỡng, mà lại siêng năng học tập sách vở thế gian, đây gọi là phạm. (2) Nếu như trí tuệ cao siêu, nhớ lâu không quên, thì cho phép mỗi ngày, dùng hai phần thời gian học tập Phật pháp, một phần thời gian học tập luận điển ngoại đạo và sách vở thế gian. Tùy phương tiện mà học hỏi, nhưng không được ròng rã thưởng thức, ham thích mê luyến, nếu như vậy cũng gọi là có tội.
Khai thị, kiến lập pháp tương tự với chánh pháp, đây gọi là tội tha thắng, nghĩa là Bồ tát đó, không những tự mình ưa thích, mà còn tự tu tập, không những như thế, mà lại còn xúi giục người khác tu tập theo mình. Sớ của ngài Hải Vân nói: “Người khai thị, kiến lập phi chánh pháp, phạm tội tha thắng. Ưa thích, nghĩa là tự mình ưa thích; diễn nói, nghĩa là đem sự ưa thích của mình nói cho người khác nghe; kiến lập, nghĩa là tự mình lập một môn phái, dẫn dụ người khác theo vào.”
Tự khen mình chê người, gọi là tội vi phạm. Sự phát khởi của giới này khác với tội tha thắng khen mình chê người vừa được đề cập ở phần trên. Điều này ở phần sau sẽ nói đến.
Những tội như vậy, không nên dùng sự “có hay không có sự hổ thẹn” mà phân biệt là phạm tội tha thắng hay tội vi phạm. Nếu như dùng pháp “có hay không có sự hổ thẹn” mà phân biệt, thì những trường hợp này đều là phiền não nhuyễn bậc trung, không gọi là tha thắng.
|