Phần 4
D2. Lãnh thọ giới pháp. Có hai phần:
E1. Thông nghĩa.
Bồ tát Long Thọ tuy chỉ tạo Phát Tâm Nghi Quỹ, chưa tạo Thọ Giới Nghi Quỹ riêng biệt, thế nhưng trong Phát Tâm Nghi Quỹ có nói:
“Con phát tối thắng Bồ đề tâm,
Rộng nhiếp tất cả chư hữu tình,
Ưa hành tối thắng Bồ đề hạnh,
Vì lợi hữu tình, nguyện thành Phật.
Tụng ba lần như vậy, phát Bồ đề tâm.”
Lại nói: “Con nay sẽ thực hành pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, đẳng trì thiền định, quán giải trí tuệ, thiện xảo phương tiện, dù thực hành một pháp nào, đều là vì lợi lạc tất cả hữu tình, cầu chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nguyện theo chân các vị Bồ tát thù thắng đã lên bậc Thập địa, đầy đủ tâm Đại bi, trụ trong Đại thừa đạo trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, mà siêng năng tu hành. Xin nguyện với các ngài, con nay sẽ làm Bồ tát, ngưỡng mong các ngài chứng minh hứa khả cho con được làm Bồ tát.”
Lại nữa, trong Học Tập Luận và Nhập Bồ Tát Hành Luận nói: “Như vậy, thệ nguyện học Bồ tát hạnh, tùy thuận tất cả các hạnh của Bồ tát. Phát tâm, có nghĩa là thọ giới.”
Luận Du Già cũng nói: “Tất cả Bồ tát trong ba đời, thệ nguyện học ba tụ giới, có nghĩa là thọ học Bồ tát tịnh giới”.
Ngài Bồ Đề Hiền và ngài Vô Úy Sinh dung hợp nghĩa lý của hai ngài Long Thọ và Vô Trước mà tạo thành quyển Thọ Giới Nghi Quỹ. Đạo Cự Luận Sớ cho rằng ngài Atisa khi viết quyển Phát Tâm Thọ Giới Nghi Quỹ, cũng đã y cứ vào nghĩa lý của các ngài Long Thọ, Vô Trước, Tịch Thiên, v.v...
Đại khái, hai loại nghi quỹ của hai ngài Long Thọ và Vô Trước, tuy có ít phần sai khác, nhưng trên phương diện đắc được giới pháp, ý nghĩa không có gì sai biệt. Nếu do vì hai lý thú Trung quán và Du già, khác nhau, mà cho rằng các phương diện: (1) người truyền giới, (2) nghi quỹ thọ giới và (3) căn bổn tội, cũng chia thành hai loại Trung quán và Du già khác nhau, thì đây là lời nói hoàn toàn không có suy nghĩ!
Ngài Bồ tát Vô Trước, tuy nói thọ giới, cần phải phát khởi nguyện tâm, thế nhưng, ngoài quyển Thọ Giới Nghi Quỹ ra, ngài chưa trước tác Phát Tâm Nghi Quỹ. Trong các bộ luận của ngài Từ Thị và Thế Thân, cũng không thấy đề cập đến.
Thắng Oán Luận Sư lập ra hai loại theo thứ tự là Nguyện hạnh và Thọ giới. Ngài Atisa cũng viết riêng Phát Tâm Nghi Quỹ và Thọ Giới Nghi Quỹ. Trong Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận Sơù và Nhập Bồ Tát Hạnh Luận Sơù của ngài Hắc Hành, cũng lập riêng Nguyện Hạnh Nghi Quỹ.
Nếu cho rằng Hạnh Nghi Quỹ không đồng với Giới Nghi Quỹ, thì điều này không đúng. Nên dùng Phát Nguyện Nghi Quỹ trước, sau khi lập nguyện kiên cố, kế đến mới dùng phép tắc của Giới Nghi Quỹ mà truyền giới. Đây gọi là phương tiện khéo léo của chư vị thiện tri thức đời trước, mục đích để làm kiên cố tịnh giới.
Hỏi: Nếu vậy, Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận nói: “Thế tục Bồ đề tâm, nghĩa là khởi tâm thương xót, thệ nguyện hiện tại cứu độ tất cả hữu tình. Nguyện sẽ thành Phật, làm lợi ích rộng lớn cho hữu tình. Đây gọi là tướng trạng của sự phát tâm đầu tiên mong cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Như vậy, cũng giống như Giới Phẩm đã nói về pháp Nghi Quỹ: Phải nên ở trước một vị Bồ tát khéo trì giới mà phát nguyện.” Nghĩa này là thế nào?
Trả lời: Thệ nguyện tu học tất cả học xứ của chư vị Bồ tát ba đời. Đối với những việc như vậy, tự thệ phát tâm, đây là đầy đủ pháp nghi quỹ phát nguyện tâm và hành tâm, chứ không phải chỉ nói đến nghi quỹ phát tâm mà thôi.
E2. Bổn nghĩa. Có hai phần:
F1. Pháp có thầy truyền giới. Có ba phần:
G1. Nghi thức thọ giới. Có năm phần:
H1. Khải thỉnh. Có hai phần:
I1. Biện minh nhân vật. Có hai phần:
J1. Biện minh người thọ giới.
Người thọ giới làm thế nào để được thọ tịnh giới? Các vị Bồ tát, hoặc tại gia, hoặc xuất gia nào khởi tâm ham thích siêng năng học tập ba tụ giới tạng mà Bồ tát cần phải học tập như đã nói ở phần trên, trước tiên phải nên phát hoằng thệ nguyện Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, nghĩa là y theo lời dạy bảo của bậc Thượng sư mà phát nguyện tâm. Nếu như chỉ muốn thọ giới Bồ tát mà không muốn tu học học xứ Bồ tát, hoặc giả ham thích học tập nhưng lại không khởi nguyện tâm, thì không nên truyền thọ giới Bồ tát cho họ. Hơn nữa, vì muốn làm y chỉ cho người thọ tịnh giới Bồ tát, trước hết phải nói cho họ nghe Bồ tát học xứ cùng hành tướng của sự phạm giới trong Bồ tát pháp tạng ma đát lý ca, bảo họ phải tự thẩm xét những điều vừa được nghe, xem có thể thọ trì được hay không? Họ phải nên tự dùng trí tuệ quán sát, suy ngẫm về việc thọ giới Bồ tát. Đây không phải là điều tự họ không muốn mà chỉ vì do người khác khuyên bảo, hơn nữa, cũng không phải vì muốn hơn người khác mà thọ giới. Nếu được như vậy, nên biết người đó là Bồ tát kiên cố, có thể thọ trì Bồ tát tịnh giới. Nên dùng pháp thọ giới mà chánh thức truyền giới cho họ.
Điều này khác với Tỳ nại da (giới pháp của Thanh văn), nghĩa là trong giới pháp Bồ tát, trước khi truyền thọ tịnh giới Bồ tát, vị thầy truyền giới bảo người sắp thọ giới phải khéo nghe, biết đúng và hiểu rõ giới pháp, để cho họ đối với những điều sẽ học, có thể khéo léo giữ gìn, tín tâm kiên cố, sau đó mới truyền giới cho họ.
Nếu có thể thành tựu tâm ham thích thì mới có thể sinh khởi tịnh giới, còn như nếu chưa thành tựu thì không thể sinh khởi. Như Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Nếu như có người vì muốn cho người khác biết (mình thọ giới), hoặc vì tùy thuận theo người khác, hoặc do người khác khuyến nhủ, hướng dẫn mà thọ giới Bồ tát, chứ không phải: (1) hoặc tự chính họ sinh khởi tâm ưa thích, (2) hoặc do sự quán sát của chính họ mà sinh tịnh tín, (3) hoặc do họ khởi tâm thương xót đối với hữu tình, (4) hoặc do họ ưa thích pháp lành mà thọ giới, phải nên nói rằng đây không phải là sự giữ gìn giới pháp chân thực, cũng không phải là sự tu tập thiện pháp viên mãn, và cũng không thể chứng đắc được quả vị thù thắng. Nếu như tương phản với những điều vừa nói trên, nên biết đó gọi là sự giữ gìn giới pháp chân thực, cũng gọi là sự tu tập pháp lành viên mãn, và có thể chứng đắc được quả vị thù thắng.”
J2. Biện minh người truyền giới.
Có thể từ những vị thầy truyền giới nào cầu xin thọ giới? Nên thẩm xét tìm cầu những vị đồng pháp Bồ tát đã phát đại nguyện, nghĩa là đã phát nguyện thọ trì giới Bồ tát, đối với Đại thừa đã có đầy đủ trí lực, rành rõi nghi thức truyền giới, đồng thời có thể giải đáp nghi vấn. Người cầu thọ giới có thể từ những vị thầy truyền giới như vậy mà cầu xin thọ giới.
Không thể từ những vị thầy truyền giới nào cầu xin thọ giới? Các hành giả cầu thọ Bồ tát không nên từ những vị chỉ có kiến thức thông minh mà cầu thọ giới, e rằng họ sẽ làm tổn hoại sự ưa thích và sự hành trì của mình.
Tổn hoại sự ưa thích, nghĩa là: (1) không có lòng tin thanh tịnh đối với giới pháp đã thọ, vì từ đầu đã không tin hiểu, đây là sự tổn hoại bậc thượng; (2) không thể khế nhập, đây là sự tổn hoại bậc trung; (3) không thể khéo tư duy, hoặc không tinh tiến, đây là sự tổn hoại bậc hạ.
Tổn hoại sự hành trì, nghĩa là có thể tổn hoại sự hành trì pháp lục độ: (1) Do sức mạnh tăng thượng của lòng tham, như tham luyến thân mệnh, tài sản mà sinh khởi bỏn sẻn, đây gọi là sự che chướng của lòng tham lam bỏn sẻn. Đối với vật chưa được sinh lòng tham mãnh liệt, đối với vật đã được không cảm thấy thỏa mãn. Tất cả những sự việc trên gọi là chướng ngại bố thí. (2) Do phạm tội tha thắng, nên gọi là hủy phạm tịnh giới; do ác hạnh hiện hành, lại phạm thêm giới khác. Đối với học xứ, không có tâm cung kính, đối với giới luật nghi lại sinh tâm giải đãi. (3) Nếu gặp nghịch cảnh, không thể nhẫn thọ, có ý tưởng bị xúc phạm nên sinh lòng giận dữ. Nếu bị người khác làm tổn hại, thường cảm thấy bị xúc phạm mà sinh lòng oán hận; không nhẫn nại đối với người làm bốn điều lỗi lầm, vi phạm bốn pháp của sa môn. (4) Không thích pháp lành, sinh tâm biếng nhác, tùy thuận ác nghiệp mà sinh lười biếng, nghĩa là thường ham ưa ngủ nghỉ cả ngày lẫn đêm, thích dựa, thích nằm, thích tụ họp bè bạn, luống uổng ngày tháng, thích đàm luận chuyện vu vơ. (5) Tâm không khéo an trụ trong xa ma tha, tỳ bát xá na, v.v..., mà thường tán loạn, nhẫn đến trong một khoảng thời gian ngắn cũng không thể để tâm an định để tu tập. (6) Ác tuệ, có hai loại: (a) hiện hành ác tuệ, nghĩa là không thể tự mình hiểu biết, căn tính hôn muội, tuy được chỉ bảo, nhưng cũng không thể lĩnh hội, đây là loại ngu si, hoặc đối với hạnh nguyện rộng lớn, tự sinh khiếp nhược, không thể nhẫn thọ; hoặc tính tình ngu muội, tâm tính cực kỳ hạ liệt; (b) ác tuệ khởi nhân, nghĩa là phỉ báng tạng Tố đát lãm (kinh tạng) của Bồ tát, cho rằng có sự sai lầm.
Đối với những hạng người như vậy, không thể từ bọn họ mà cầu thọ giới Bồ tát.
Có sớ giải nói: “Đối với những lỗi lầm vừa nêu trên, nếu như người nào đầy đủ phần lớn, thì không thể từ họ cầu thọ giới, thế nhưng, không có nghĩa là đối với người chỉ có ít phần lỗi lầm mà không thể từ họ cầu thọ giới”. Điều này có nghĩa, nếu như họ không có những lỗi lầm nghiêm trọng, mà chỉ có một vài khuyết điểm, thì cũng có thể từ họ cầu thọ giới.
I2. Biện minh pháp thọ giới. Có hai phần:
J1. Biện minh pháp của người thọ giới.
Như phần trước đã nói Bồ tát cầu thọ giới, trước tiên phải đảnh lễ vị thầy truyền giới. Bởi vì nếu không cung kính, ắt không thể sinh khởi Bồ tát giới. Lại như, hai ngài Thắng Oán, Vô Úy Sinh đều nói: “Trước tiên, nên cúng dường mạn đà la, kế đó tác bạch như sau: Con nay từ nơi Ngài, mong cầu được thọ tất cả Bồ tát giới. Duy nguyện Ngài không nề lao nhọc, thương xót hứa khả.” Nếu không cầu thọ, giới Bồ tát sẽ không sinh khởi!
Các ngài Thắng Oán, Bồ Đề Hiền, Atisa, Vô Úy Sinh đều nói: “Phải nên tác bạch ba lần như vậy.” Hai ngài Vô Úy Sinh, Thắng Oán cũng nói: “Lúc đó nên quỳ gối chắp tay.” Lại như phần sau có nói đến các uy nghi, tùy ý chọn lựa đều được cả.
J2. Biện minh pháp của người truyền giới.
Vị Bồ tát truyền giới, đối với Bồ tát cầu thọ tịnh giới, nên tuyên thuyết công đức rộng lớn của Bồ tát tịnh giới; kế đến, lại vì người cầu thọ giới, giảng giải các loại tội tướng khinh, trọng của học xứ, làm cho họ sinh lòng ưa thích, nói như vầy: “Thiện nam tử lắng nghe, ông nay phát nguyện đối với hữu tình, ai chưa được độ làm cho họ được độ, ai chưa được giải thoát làm cho họ được giải thoát, ai chưa chứng đắc Niết bàn làm cho họ chứng đắc Niết bàn, tiếp nối dòng dõi Phật, làm cho không đoạn tuyệt. Ông có thể làm được như vậy hay không? Ông nay phải nên như vậy, phát kiên cố tâm, lập kiên cố nguyện!”.
Đây là vì thấy người thọ giới chưa hiểu rõ ý nghĩa thọ giới, muốn cho họ đối với sự thọ giới sinh khởi lòng ưa thích, phát tâm gánh vác những điều phải học, ý nguyện kiên cố, cho nên mới nói lời như vậy.
Công đức của sự hộ trì giới luật sẽ được nói đến ở phần sau.
Lại như, Học Tập Luận nói: “Tịch Tĩnh Quyết Định Thần Biến Kinh nói: Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu Bồ tát ở nơi hằng hà sa số chư Phật, ở trước mỗi vị Phật, cúng dường Đại tự tại ma ni bảo vương đầy khắp hằng hà sa số cõi Phật. Cúng dường như vậy trải qua số kiếp như hằng hà sa. Mạn Thù Thất Lợi! Lại có Bồ tát khác, sau khi nghe được Bồ tát luật nghi, bèn tự suy ngẫm rằng ta phải tu học chánh pháp như vậy. Vị Bồ tát ưa thích tu học (Bồ tát luật nghi) đó, mặc dù chưa tu học, đã được rất nhiều phước báo, vượt hơn phước đức của vị Bồ tát trước dùng Đại tự tại ma ni bảo vương cúng dường chư Phật. Nếu như Bồ tát nào thấy được công đức như vậy, thì không nên thoái chuyển. Kinh này lại nói: Mạn Thù Thất Lợi! Giả sử tất cả hữu tình nhiều như số vi trần trong một cõi tam thiên đại thiên thế giới, mỗi một hữu tình đều làm vua cõi Diêm phù đề. Các vị vua đó ra lệnh như sau: “Nếu có Bồ tát nào thọ trì đọc tụng, theo lời dạy mà tu hành các kinh điển Đại thừa, mỗi ngày chúng ta sẽ dùng móng tay nhọn cắt năm lượng thịt, làm cho Bồ tát đó đau đớn mà chết.” Mạn Thù Thất Lợi! Vị Bồ tát (ưa thích tu học Bồ tát luật nghi) đó, tuy nghe những lời hăm dọa như vậy, không kinh không sợ, không khủng hoảng, nhẫn đến không khởi một niệm lo lắng, không khiếp không lui, cũng không do dự, an nhiên thọ trì chánh pháp càng thêm tinh tiến. Mạn Thù Thất Lợi! Vị Bồ tát đó trì, tụng, giải, hành, vì tâm dũng mãnh, nên sự bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, tất cả tam ma địa đều dũng mãnh. Mạn Thù Thất Lợi! Bồ tát đối với những người đến làm hại, cũng không sinh tâm phẫn nộ, oán ghét hay giận dữ. Mạn Thù Thất Lợi! Vị Bồ tát đó, ngay như Đế thích, Phạm vương cũng không lay động nổi.”
Nếu như hiện đời cung kính thọ trì những điều đã học, thì có thể hoạch được quả báo thù thắng. Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh nói:
Nếu trong số kiếp như hằng sa,
Nơi Phật, ngàn ức na do tha,
Chí tâm cúng dường phan, bảo cái,
Lại cúng thức ăn và đèn, hoa,
Chẳng bằng ở vào đời mạt pháp,
Thánh giáo Như Lai sắp bị diệt,
Thọ trì sở học trong một ngày,
Phước báo thù thắng hơn trần sa.
Bởi thế phải nên thọ trì sở học. Như vậy, vị Bồ tát truyền thọ tịnh giới, phải nên đối với vị Bồ tát cầu học giới giảng dạy tường tận những điều mà Luận đã nói.
Nói về các tội khinh trọng của học xứ, nghĩa là nói tường tận về: (1) các tội căn bản tức là tội trọng, (2) các sự vi phạm khác gọi là tội khinh, (3) những sự tai hại của việc không gìn giữ sở học.
Như Học Tập Luận nói: “Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh nói: “Nếu như trước đó, trong một khoảnh khắc, khởi tâm bố thí, sau đó lại không bố thí, sẽ bị đọa ngạ quỷ; còn nếu trước đó đã hứa bố thí, sau lại không bố thí, sẽ bị đọa địa ngục.” Huống chi đã hứa bố thí Vô thượng Bồ đề cho tất cả hữu tình mà lại không chịu tu tập!”
Pháp Tập Kinh nói: “Thiện nam tử! Bồ tát nên khéo tu tập thực đế. Vì sao? Thiện nam tử! Thực đế tức là chánh pháp. Thiện nam tử! Vì sao gọi là thực đế? Nếu Bồ tát phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nhẫn đến thà mất thân mạng, quyết không xả bỏ tâm này. Vì không xả bỏ chúng sinh, cho nên gọi là Bồ tát thực đế. Nếu như Bồ tát đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, sau đó lại xả bỏ tâm này, cùng xả bỏ chúng sinh, Bồ tát đó là kẻ đại vọng ngữ, thực đáng bị quở trách, ruồng bỏ.”
Thánh Hải Ý Kinh nói: “Này Hải Ý! Ví như trên thế gian có một vị vua, hay một vị đại thần, triệu tập tất cả dân chúng trong nước, hứa hẹn khoản đãi một bữa cơm ngon để mọi người được no đủ, thế nhưng lại không chuẩn bị các thức ăn uống, lừa dối tất cả nhân dân trong nước. Những người dân đó không được ăn uống, bèn tản mác khắp nơi đi tìm thức ăn, trong lòng giận dỗi căm hận, oán trách rồi trở về nhà. Này Hải Ý! Bồ tát cũng tương tự như thế, nguyện vì tất cả hữu tình, người chưa được độ làm cho được độ, người chưa được giải thoát làm cho giải thoát, người chưa được an ổn làm cho an ổn, người chưa được Niết bàn làm cho được Niết bàn, thế nhưng vị Bồ tát đó, tuy có nguyện như vậy, nhưng lại không siêng năng tu tập đa văn, cũng không tích tập pháp lành, Bồ đề phần pháp, đây gọi là không thể thực hành những điều đã hứa. Vị Bồ tát đó là kẻ lừa dối các hàng trời, người. Các vị trời khi xưa gần gũi Đức Như Lai, thấy thế bèn quở trách, ruồng bỏ. Nếu như trước đã hứa bố thí, sau đó lại có thể thực hành điều đã hứa, vị thí chủ như vậy rất là hiếm có. Này Hải Ý! Cho nên phải biết rằng Bồ tát không nên chỉ dùng lời nói, lừa dối tất cả hàng trời người trên thế gian.”
Đối với học xứ, trước đó phát nguyện hộ trì, sau lại không chịu phòng hộ, do những sự tệ hại như vậy, sẽ bị đọa vào ác đạo. Nói lời dối gạt, coi thường lừa bịp chư Phật Bồ tát và hàng trời người, người ấy cũng bị chư thiên quở trách.
Do vì thấy được những công đức của sự trì giới và những tệ hại của sự vi phạm, vị Bồ tát đó mới có thể không xả bỏ chỗ phát tâm, kiên cố thệ nguyện, thọ trì tịnh giới.
Điều này, trong bộ luận của ngài Atisa, chưa nói đến công đức của tịnh giới và các tội khinh trọng. Chỉ ở sau câu “Thiện nam tử lắng nghe ... lại phải nên lập nguyện kiên cố”, thêm vào các câu hỏi: Không phải vì muốn hơn người khác phải không? Không phải do tự ông muốn mà do người khác khuyến khích phải không? Đối với tạng Tố đát lãm (kinh), tạng Ma đát lý ca (luận) của Bồ tát, đã nghe qua chưa? Hiểu chưa? Tin chưa? Có thể thọ trì ít phần hay không? Đối với các câu hỏi này, mỗi câu đều phải theo đúng nghi thức mà trả lời.
Câu trên: Chưa được độ làm cho được đoä, như ngài Hữu Hiền Luận sư nói: “Đối với Thanh văn, Duyên giác, chưa thể đoạn trừ sở tri chướng, làm cho họ đoạn trừ; đối với các trời Đế thích, Phạm thiên, chưa thể giải thoát khỏi tham, si, làm cho họ giải thoát; đối với các chúng sinh đang thọ khổ trong địa ngục, chưa thể thoát ly, làm cho họ thoát ly; đối với các loại hữu tình, chưa thể chứng đắc vô trụ Niết bàn, làm cho họ chứng đắc.”
H2. Đầy đủ tư lương.
Muốn cầu Biệt giải thoát giới, cần phải cung kính thừa sự tăng chúng, thì mới được thọ học Biệt giải thoát giới.
Còn Bồ tát giới này, vì là tối thù thắng, phải nên trước tiên cúng dường rộng lớn chư Phật Bồ tát, kế đến mới có thể được Bồ tát tịnh giới. Cho nên các vị Bồ tát cầu thọ tịnh giới, phải nên lộ vai phải, ở trước tượng Phật, cầu thỉnh mười phương ba đời chư Phật Thế Tôn, cùng các vị Bồ tát đăng địa đã được đại trí tuệ, đầy đủ đại thần lực, làm đối tượng cúng dường.
Hiện tiền, chuyên tâm quán niệm công đức của tịnh giới. Những công đức này không đồng với Thanh văn. Sự phát khởi của tâm tối thượng đệ nhất ưa thích tịnh giới tùy thuộc vào lực tinh tiến ở hiện tại, cùng lực nhân duyên đời quá khứ mà sinh khởi tâm ân trọng, hoặc do lực của nhân duyên này mà sinh khởi tịnh tâm, cung kính cúng dường.
Trước tiên, cần phải quét dọn tẩy rửa sạch sẽ đàn tràng thọ giới, chưng bày thật trang nghiêm. Chính giữa an trí tượng Phật, hai bên an trí các tượng Bồ tát. Hành giả tự quán tưởng mười phương chư Phật, Bồ tát, như đang ở trước mặt, chuyên tâm tưởng niệm công đức của các ngài, khải phát lòng tin cao độ. Lại phải ngưỡng thỉnh Thượng sư (truyền giới sư) ngồi tòa sư tử, y theo lời dạy trong Nghi Quỹ, quán tưởng ngài như Đức Như Lai, dâng lên các món cúng dường thượng diệu: hoa, đèn, hương đốt, hương xoa, v.v..., kế đến, ở trước Tam bảo và Thượng sư, phân biệt lễ bái, tán thán, cung hiến mạn đà la. Thượng sư cũng dùng phương tiện khéo léo, chỉ dẫn các đệ tử cách thức cúng dường.
H3. Cung thỉnh nhanh chóng truyền giới.
Kế đó quỳ xuống đất, cất lời thỉnh cầu như sau: “Duy nguyện thương xót, truyền cho đệ tử Bồ tát tịnh giới luật nghi”. Nếu như Thượng sư là người tại gia, nên xưng vị đó là “Thiện nam tử”, nếu là người xuất gia trẻ tuổi có đức hạnh, nên xưng vị đó là “Đại đức”, còn nếu là bậc xuất gia tuổi cao có đức hạnh, nên xưng là “Trưởng lão”. Ngài Atisa nói: “Phải nên thỉnh cầu thêm: Xin nguyện nhanh chóng truyền thọ giới pháp, như vậy ba lần.”
Ngài Đức Quang cho rằng: “Đã nói có ba loại: Thiện nam tử, Đại đức, Trưởng lão, ắt không cần phải từ người xuất gia cầu thọ tịnh giới, mà cũng không phải chỉ từ người tuổi cao, trưởng lão mà cầu thọ tịnh giới”.
Ngài Cát Tường Trí nói:
Tỳ kheo cầu thọ giới,
Trong hai thừa Hiển, Mật,
Phải từ tỳ kheo thọ,
Không nên từ người khác.
Nghĩa là các tỳ kheo cầu thọ hai loại giới thù thắng (Biệt giải thoát giới và Tam tụ tịnh giới), phải nên từ các tỳ kheo mà cầu thọ giới, không được từ các vị tại gia cầu thọ. Thế nhưng, ở đây cũng không có nghĩa là nếu từ người khác (không phải tỳ kheo) thọ giới, thì không sinh khởi Bồ tát tịnh giới.
H4. Sinh khởi niềm vui thù thắng.
Phải nên chuyên tâm tưởng niệm một cảnh, trưởng dưỡng tịnh tâm, tự nghĩ rằng: “Không bao lâu, ta sẽ được vô tận vô lượng vô thượng đại công đức tạng.” Sau khi suy ngẫm nghĩa lý như vậy, bèn đứng yên chắp tay im lặng.
H5. Hỏi theo thứ tự.
Lúc đó vị Bồ tát có trí lực, dùng tâm không loạn, hoặc ngồi hoặc đứng, hướng về người thọ giới, hỏi lời như thế này: “Này (tên người thọ giới), thiện nam tử lắng nghe (hoặc: pháp đệ lắng nghe), ông có phải là Bồ tát không?” Người thọ giới nên trả lời: “Là Bồ tát.” Hỏi tiếp: “Phát Bồ đề tâm chưa?” Nên trả lời: “Đã phát.” Hai câu hỏi này có ý muốn chứng biết người thọ giới có chủng tính làm Bồ tát. Hơn nữa, làm cho tâm phát nguyện của họ càng thêm kiên cố.
Thượng sư Atisa nói: “Trước tiên hỏi theo thứ tự, sau đó sinh khởi lòng vui mừng, kế đó hỏi tiếp: Ông có muốn ở nơi tôi thọ tất cả Bồ tát học xứ, thọ tất cả Bồ tát tịnh giới không? Người thọ nên trả lời: Nguyện thọ. Sau khi trả lời như vậy xong, mới truyền giới cho họ.”
G2. Nghi quỹ chánh hành.
Trước tiên nên khai thị văn nghĩa của nghi quỹ, nói lời như sau: “Này (tên người thọ giới), thiện nam tử lắng nghe! Học xứ như vậy, tịnh giới như vậy, tất cả Bồ tát quá khứ đã đầy đủ, tất cả Bồ tát tương lai sẽ đầy đủ, tất cả Bồ tát hiện tại ở mười phương đang đầy đủ. Học xứ như vậy, tịnh giới như vậy, tất cả Bồ tát quá khứ đã học, tất cả Bồ tát vị lai sẽ học, tất cả Bồ tát hiện tại ở mười phương đang học. Tất cả học xứ, tất cả tịnh giới, nghĩa là luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới và nhiêu ích hữu tình giới, ông có thể thọ trì hay không?” Trả lời: “Có thể thọ trì.” Như vậy ba lần hỏi, ba lần trả lời: “Có thể thọ trì.”
Học xứ, tức là những điều mà Bồ tát cần phải tu học, còn tịnh giới, tức là tự tính của học xứ của Bồ tát.
Phần trên là khai thị những học xứ cộng học và hành tướng của học xứ của Bồ tát ba đời. Nói tổng quát là ba tụ tịnh giới. Như vậy Bồ tát cần phải chánh thức thọ trì.
G3. Nghi quỹ chung hành. Có bốn phần:
H1. Khải bạch thỉnh cầu chứng minh.
Vị Bồ tát truyền giới (Truyền giới sư), ở trước hình tượng Phật, đối với mười phương hiện tại chư Phật và chư Bồ tát, cung kính cúng dường, cúi đầu đảnh lễ, chắp tay bạch rằng: “Con là Bồ tát (tên người truyền giới). Hiện nay ở trước con, là Bồ tát (tên người thọ giới), nhẫn đến ba lần cầu thọ Bồ tát tịnh giới. Con là Bồ tát (tên người truyền giới), đã vì Bồ tát (tên người thọ giới), mà chứng minh. Duy nguyện chư Phật Bồ tát trong mười phương vô biên vô tế thế giới, bậc chân chánh đệ nhất, hoặc hiện, hoặc không hiện, trong tất cả mọi thời, tất cả mọi nơi, tất cả hữu tình hiện đang giác ngộ, xin các ngài chứng minh cho Bồ tát (tên người thọ giới) cầu thọ giới.” Lần thứ hai, lần thứ ba, cũng nói như vậy.
Lại bảo các đệ tử theo nghi thức mà ngồi, phải nên tưởng niệm như sau: “Con nay lễ lạy dưới chân mười phương chư Phật Bồ tát.” Liền hướng về mười phương đảnh lễ ba lần, rải hoa cúng dường, đứng dậy chắp tay, trước tiên cầu thỉnh mười phương hiện tại chư Phật Bồ tát hộ niệm cho hành giả, kế đó thỉnh cầu chư Phật Bồ tát chứng minh. Nếu đảnh lễ phương trên và phương dưới, thì phải đem tâm hướng về các cõi phương trên và phương dưới, đồng thời đảnh lễ về hướng đông và hướng tây.
Nói không hiện, có nghĩa là những người truyền giới và thọ giới, còn hiện, có nghĩa là tất cả chư Phật Bồ tát.
H2. Tán thán công đức thọ giới.
Như vậy, sau khi yết ma thọ giới hoàn tất, do công năng của pháp yết ma hiện tướng trước chư Phật hiện đang trụ thế, và chư vị đăng địa Bồ tát ở khắp mười phương vô biên vô tế thế giới, khiến cho ở ngay chỗ ngồi của các ngài, hiện khởi tướng chấn động, chứng tỏ người cầu thọ giới ấy đã được giới thể Bồ tát.
Lúc đó, mười phương chư Phật Bồ tát, đối với vị Bồ tát vừa thọ giới đó, khởi lòng thương tưởng, do sự thương tưởng, chuyển chánh trí kiến, do chánh trí kiến bèn biết được như thật là ở thế giới như vậy có vị Bồ tát như vậy đang ở nơi Bồ tát như vậy chánh thức thọ Bồ tát tịnh giới. Các ngài coi tất cả Bồ tát vừa thọ giới Bồ tát đó như con, như em, sinh tâm thân thiện, nghĩ tưởng thương xót. Nhờ sự tưởng nghĩ thương xót của chư Phật Bồ tát, khiến cho vị Bồ tát đó phát tâm mong cầu pháp lành, đối với các học xứ học tập không gián đoạn, tăng tiến không ngừng, không hề lui sụt, mà được thành tựu.
Bồ tát tịnh giới luật nghi, đối với tất cả tịnh giới luật nghi khác, có bốn sự thù thắng: (1) vô thượng, nghĩa là tối thắng không thể so sánh được, (2) có vô lượng vô biên đại công đức tạng theo bên hành giả, có thể nhiếp thọ vô lượng đại công đức quả báo, (3) giới này do thiện tâm ưa thích đệ nhất tối thượng mà phát khởi, có thể khởi niềm vui tăng thượng, mong làm lợi lạc tất cả hữu tình, (4) có thể phổ biến đối trị tất cả ác hành sinh khởi bởi ba độc tham, sân, si của chúng sinh.
Công đức thọ trì biệt giải thoát tịnh giới luật nghi (giới Thanh văn), so với công đức thọ trì Bồ tát tịnh giới luật nghi, trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, số phần không bằng một, toán phần không bằng một, kế phần không bằng một, dụ phần không bằng một, ô ba ni sát đàm phần cũng không bằng một.
H3. Cúng dường báo ân.
Lúc đó, vị truyền giới Bồ tát, hướng về chư Phật Bồ tát trong vô biên vô tế thế giới ở khắp mười phương, cúng dường giống như trên, cúi đầu đảnh lễ, cung kính mà lui ra.
H4. Không được vội vàng trình bày, khai thị Bồ tát giới.
Các vị Bồ tát, đối với giới văn, nghi quỹ của Bồ tát luật nghi mà mình đã thọ, tuy đã thọ trì rốt ráo, nhưng đối với những hữu tình không tin tưởng, oán ghét Bồ tát tạng, nếu chưa kịp tìm hiểu xem đối phương có căn cơ Bồ tát hay không, thì không nên vội vàng nói cho họ biết. Tại sao như vậy? Bởi vì bọn họ nghe xong, không thể tin hiểu, do sự vô tri che mờ tâm trí, bèn sinh hủy báng, cho rằng Bồ tát tạng là bất thiện, là vô nghĩa, là không hợp với đạo lý.
Hơn nữa, giả như có người phỉ báng, miệng nói lời ác, ý chấp tà kiến, tà tưởng, hiện khởi toàn những ý niệm ác đối với một vị Bồ tát đang an trụ trong tịnh giới Bồ tát, thành tựu tạng công đức lớn, thì cho đến ngày nào người phỉ báng kia chưa hoàn toàn xả bỏ những niệm ác đó, họ sẽ vĩnh viễn bị vô lượng nghiệp báo ác lớn theo đuổi, như bóng theo hình.
Nghi quỹ chung hành này, ngài Atisa thâu nhiếp thành bốn loại. Trong luận Du Già, cũng có ý nghĩa như vậy. Lại nữa, ngài Atisa nói sau phần khải bạch thỉnh chứng minh, là đến phần cúng dường báo ân. Luận Du Già trình bày, cũng nói như vậy.
Hiện nay ở đây, vì để được tiện lợi, nên sắp phần cúng dường báo ân ra phía sau. Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng tóm tắt ý nghĩa như sau:
Chí tâm cung kính lễ, cúng dường,
Tất cả Như Lai và Bồ tát,
Vô lượng tạng phước đức rộng lớn,
Của tất cả Bồ tát giữ giới,
Trong tất cả mười phương ba đời ,
Dùng sự vui thích thắng diệu này,
Từ vị thầy có thắng trí lực,
Đầy đủ giới đức mà thọ giới,
Khi ấy, tất cả Phật Bồ tát,
Thấy người thọ giới tu pháp lành,
Bèn thường sinh khởi tâm thân thiện,
Giữ gìn thương mến như con một.
Hai câu đầu chỉ thị nghi quỹ gia hành, sáu câu kế nói về người thọ giới, lòng ưa thích thọ giới và người truyền giới, bốn câu cuối tán thán công đức, chỉ thị nghi quỹ chung hành.
F2. Pháp không có thầy truyền giới.
Nếu như không gặp được vị thầy truyền giới đầy đủ công đức như trên đã nói, lúc đó nên đối trước tượng Phật, tự mình thọ tịnh giới luật nghi. Trật vai áo bên phải, quỳ xuống chắp tay, nói lời như sau: “Con tên là ... Ngưỡng khải mười phương tất cả chư Phật, chư vị đăng địa Bồ tát. Con nay mong được ở nơi chư Phật Bồ tát ở mười phương thế giới, thệ nguyện thọ trì tất cả Bồ tát tịnh giới, nghĩa là luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới và nhiêu ích hữu tình giới. Học xứ như vậy, tịnh giới như vậy, tất cả Bồ tát quá khứ đã học, tất cả Bồ tát vị lai sẽ học, tất cả Bồ tát hiện tại ở khắp mười phương đang học”. Nói như vậy ba lần. Nói xong đứng dậy. Còn tất cả các phần khác đã nói ở phần trên đều cần phải biết, nghĩa là tất cả nghi quỹ khác, cũng giống như pháp có thầy.
Các bộ sớ giải khác, tuy không nói rõ tất cả những gì cần phải làm hoặc không làm, thế nhưng các phần: (1) hỏi theo thứ tự, (2) khải bạch, (3) thỉnh cầu chứng minh, (4) không nên vội vàng trình bày khai thị giới văn nghi quỹ, v.v..., có thể không cần đến trong pháp không có thầy truyền giới này.
Về vấn đề có thầy, không có thầy, Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận Sớ nói: “Nếu có chướng ngại về tính mạng hoặc tịnh mạng, tuy ở gần vị thầy truyền giới, cũng giống như không có thầy; nếu không có chướng ngại về tính mạng hoặc tịnh mạng, tuy ở cách xa vị thầy truyền giới, cũng nên đến vị ấy mà cầu thọ giới.”
Lại nữa, Tân Sớ nói: “Những người đối với điều giới đã thọ trước kia hoàn xuất hoàn tịnh, cùng những người không có lòng tin thanh tịnh, không nên y theo pháp không thầy, mà phải y theo pháp có thầy để thọ giới.”
“Người không có lòng tin thanh tịnh”, nghĩa là tuy có thầy truyền giới, nhưng không kính trọng tin tưởng, mà lại muốn tự mình thọ giới Bồ tát, đây là điều phi lý.
“Đối với điều thọ trước kia, hoàn xuất hoàn tịnh”, nghĩa là như Cựu Sớ nói: “Nếu có thầy truyền giới, thì y vào pháp có thầy mà thọ, còn nếu không có thầy truyền giới, thì y vào pháp không thầy mà thọ giới.” Ý nghĩa này phát xuất từ pháp không có thầy trong Bồ Tát Địa, đây là mật ý của ngài Vô Trước, nghĩa là đối với trường hợp thọ giới hoàn xuất hoàn tịnh, phải y như trong luận đã nói về trường hợp không gặp được vị thầy truyền giới đầy đủ giới đức.
Đáng tiếc, trong thời đại này, chánh pháp suy vi, đối với giới pháp Đại Tiểu thừa, những người thọ giới, tu học, ái hộ giới pháp, thật là hiếm thấy, giống như sao buổi sáng; mặt khác, người truyền giới có công đức nhiều hơn lỗi lầm, cũng rất là hiếm thấy, huống là đầy đủ tất cả đức hạnh mà kinh luận đề cập đến.
Trong giới biệt giải thoát (Thanh văn) và giới Mật thừa, thì khi thọ giới, phải y vào nghi quỹ, nếu như không có thầy thì trên căn bản không có sự thọ giới. Còn như muốn thọ giới Bồ tát (Đại thừa), nếu chưa gặp được vị thầy truyền giới đầy đủ giới đức, thì có thể tự mình ở trước tượng Phật, y theo các nghi quỹ thanh tịnh mà thọ giới, ắt sẽ sinh khởi giới thể viên mãn, nghĩa là lúc thọ giới, Bồ tát giới pháp khác với Thanh văn và Mật thừa, do đây tất cả các vị Bồ tát đầy đủ trí tuệ, phải nên thọ trì thanh tịnh giới pháp này, dùng sự ưa thích thù thắng mà chân chánh hộ trì. Bởi thế, các hữu tình kham năng thọ giới, phải tùy sức của mình mà siêng năng tu học. Bồ tát Tịch thiên nói:
Con nay được phước lớn,
May mắn được thân người,
Lại sinh trong nhà Phật,
Làm con Đức Như Lai.
(Nhập Bồ Tát Hạnh, Phẩm thứ ba, kệ 25)
Nghĩa là người thọ giới, phải nên tưởng nghĩ như vầy: “Thọ được giới pháp Bồ tát, ắt trong đời này, được nhiều lợi lạc, thân người có được này, sẽ không luống uổng, có thể nhập vào hàng ngũ Bồ tát.” Ngài Tịch Thiên lại nói:
Từ nay con phải làm,
Xán lạn gia tộc Phật,
Quyết không làm ô nhiễm,
Dòng dõi tôn quý này.
(Nhập Bồ Tát Hạnh, Phẩm thứ ba, kệ 26)
Lại nữa, người thọ giới, phải nên nghĩ như vầy: “Từ nay trở đi, những điều mình tu tập, quyết không để cho giới pháp này bị nhiễm oâ.”
Đến đây đã giải thích phần thọ giới xong.
Chú thích:
Cách thọ Bồ tát giới có hai nghi thức, một thuộc về phái Trung quán (ảnh hưởng cách phát Bồ đề tâm và thọ Bồ tát giới theo hệ thống của ngài Long Thọ) và phái Duy thức (ảnh hưởng cách phát Bồ đề tâm và thọ Bồ tát giới theo hệ thống Du già của ngài Vô Trước). Điều này đã được Đức Phật huyền ký và phó chúc pháp tạng “Tâm địa pháp môn” (Bồ tát giới) cho hai ngài Văn Thù và Di Lặc trong kinh Tâm Địa Quán.
Tội tha thắng, còn gọi là tội ba la di, tức là những tội nặng căn bản của giới Bồ tát.
Bốn pháp của sa môn, tức là bốn tội giới căn bản của tỳ kheo: dâm dục, sát hại, trộm cướp, vọng ngữ.
Cúng dường mạn đà la là một nghi thức cúng dường một biểu tượng, tượng trưng cho toàn thể một tiểu thiên thế giới trân quý (có thể làm bằng vàng, bạc, cát, hoa, gạo, v.v...) dâng lên cúng dường. Đây là một pháp cúng dường thù thắng trong Mật tông Tây Tạng.
Ý muốn nói nếu các vị tỳ kheo từ một vị không phải tỳ kheo (nghĩa là người tại gia) cầu thọ Bồ tát tịnh giới, vẫn có thể đắc được giới thể Bồ tát giới. Điều này đối với các hành giả Thanh văn thừa, hoặc Hiển giáo Đại thừa, có thể gọi là “không thể tưởng tượng” !!!
Trường hợp nếu là người nữ, thì nên đổi cách xưng hô là: Thiện nữ nhân (hoặc pháp đệ, không được gọi là pháp muội), lắng nghe, cô (hay bà – nếu đã có chồng) có phải là Bồ tát không? ...
Nhập Bồ Tát Hành Luận của ngài Tịch Thiên có bài kệ sau:
Đối với Phật tử này,
Nếu ai khởi ác niệm,
Phật nói mỗi niệm ác,
Đọa địa ngục một kiếp. (Phẩm thứ nhất, kệ 34)
Hoàn xuất hoàn tịnh: nghĩa là trước kia phạm giới và đã sám hối khôi phục sự thanh tịnh, nhưng chưa thọ giới lại.
|