Phần 3
F3. Nhân duyên đầy đủ của nhiêu ích hữu tình giới.
Có mười một hành tướng an trụ trong giới nhiêu ích hữu tình, đối với mỗi hành tướng thành tựu tất cả mọi loại, chẳng hạn như hành tướng làm bạn giúp đỡ, là phải nên làm bạn giúp đỡ tất cả hữu tình, dùng tất cả hành tướng làm bạn giúp đỡ, lại như lúc báo ơn, thì đối với mỗi một hữu tình trong mười một loại, tùy việc cần phải làm, dùng mười một hành tướng mà làm lợi ích. Thế nào là mười một tướng?
G1. Làm bạn trợ giúp cho người cần trợ giúp.
Điều này có hai: (i) làm bạn trợ giúp về sự nghiệp, (ii) làm bạn an ủi tinh thần cho người đang gặp khổ não.
(i) Trợ giúp sự nghiệp có tám loại: (a) trợ giúp việc tính toán, nghĩa là trợ giúp chúng sanh mưu tính công việc nên làm hay không nên làm, hưng thạnh hay suy thoái; (b) trợ giúp hành động, nghĩa là trợ giúp trong sự quyết định hiện tiền; hai điều này gọi là hai loại trợ giúp bằng “ý niệm”; (c) làm bạn đồng hành cho những người lữ hành không có bạn đồng hành, hoặc trợ giúp họ trong lúc đường xá hư hoại, tắc nghẽn; (d) trợ giúp phát triển sự nghiệp, nghĩa là chỉ dẫn một cách tường tận những phương cách trồng trọt, v.v...; (e) trợ giúp gìn giữ những của cải hiện có, nghĩa là chỉ dẫn những phương cách để giữ gìn tài sản, không để trộm cắp cướp giật; (f) trợ giúp trong việc hòa hợp sự chia rẽ, giải trừ sự oán hận; (g) trợ giúp nghĩa lợi, nghĩa là trợ giúp trong sự lựa chọn cơ hội để tu nghiệp phước; (h) trợ giúp tu phước, nghĩa là nếu như người đó không biết lợi dụng cơ hội để tu phước, thì nên trợ giúp cho họ có cơ hội tu tập phước đức. Luận sư Đức Quang nói: “Hai sự trợ giúp đầu là trợ giúp những người chưa có tài sản gây dựng tài sản; bốn sự trợ giúp kế tiếp là trợ giúp những người đã có tài sản giữ gìn tài sản, làm cho được tăng trưởng; hai sự trợ giúp cuối là hướng dẫn những người đã tăng trưởng tài sản, tu tập cúng dường.”
(ii) Đối với việc giúp đỡ tinh thần, cũng có hai loại:
(a) đối với sự khổ về thân, gồm có bốn điều: (i) đối với người bệnh: cung cấp thuốc men, chăm sóc vỗ về; (ii) đối với người tàn tật: dẫn dắt người mù lòa, chỉ dẫn người câm điếc; (iii) đối với người què quặt: hoặc dùng thân cõng vác, hoặc dùng xe chuyên chở, đưa họ đến nơi đến chốn; (iv) đối với người đi đường mệt nhọc: cung cấp thức ăn chỗ ở, chăm sóc cho họ đỡ mỏi mệt.
(b) đối với sự khổ về tâm, gồm có ba điều: (i) khổ về cái chướng, nghĩa là đối với người bị ngũ cái trói buộc, phải đem lời dạy của bậc thánh chỉ bày, làm cho họ hiểu rõ; (ii) khổ không gián đoạn, nghĩa là đối với những người bị bát tầm tư trói buộc, phải nên thuyết pháp đối trị, làm cho họ thông hiểu; bát tầm tư là: (1) tham dục; (2) sân khuể; (3) hại; (4) bà con họ hàng; (5) cõi nước; (6) sự bất tử; (7) bị người khác khinh miệt; (8) tộc tính tương ưng. Tộc tính tương ưng, tức là những người có tài sản, dòng dõi, thế lực, buông thả trong sự hưởng thú dục lạc, lại còn tự cho là hào kiệt tôn quí; (iii) đối với những người khổ vì: (1) bị người khác khinh miệt, hoặc (2) thấy người khác trội hơn, thì phải cho họ biết sự khổ não của những sự hơn thua trên thế gian, đồng thời giảng cho họ hiểu rõ nghĩa lý vô ngã của pháp xuất thế gian.
G2. Làm lợi ích cho người mê muội nghĩa lý.
Đối với những hữu tình đang bị khổ não vì những việc ác mà họ đã gây tạo, thì nên giảng nói chiùnh pháp, giúp cho họ quày đầu, ngừng những việc ác. Giảng nói chiùnh pháp như thế nào? Tức là đem tám loại chiùnh pháp đầy đủ bốn công đức ra để giải đáp ba loại nghi vấn của hạng người mê muội.
(a) Đối với người do không biết mà hỏi, thì nên nói pháp “tương ưng giúp đỡ”, nghĩa là dùng nghĩa lý hòa hợp không điên đảo mà giải đáp.
(b) Đối với người biết nhưng cố ý hỏi lời trái nghịch, thì nên nói pháp “tùy thuận rõ ràng”, nghĩa là dùng nghĩa lý tùy thuận, trước sau không mâu thuẫn mà giải đáp.
(c) Đối với người không biết nhưng lại hỏi lời trái nghịch, thì phải dùng phương pháp “hữu dụng tương xứng”, sau đó lại nói pháp “tùy thuận”, “thường ủy phần tư lương” mà giải đáp. (i) “Hữu dụng tương xứng”, nghĩa là dùng phương tiện làm cho đối phương tỏ ngộ. (ii) “Tùy thuận”, nghĩa là tùy thuận những công đức mà thế gian đã lập ra. (iii) “Thường ủy phần tư lương”, nghĩa là dựa vào tư lương của thánh đạo mà giải đáp.
Ngài Luận sư Đức Quang nói: “Thế gian gọi là thường ủy, tức là vì muốn phòng hộ tâm mình, phải nên thường thường siêng năng giữ gìn, lúc nào cũng cẩn thận, chế phục các phiền não.” Điều này giống như lời giải thích của ngài Tối Thắng Tử. Hai lối giải đáp sau, (ii) và (iii), ngài Đức Quang cho rằng: “Do giải tăng thượng mà giải đáp”, còn ngài Tối Thắng Tử cho rằng: “Do chứng tăng thượng mà giải đáp.”
Lại nữa, ở đây tuy nói ba loại nghi vấn, nhưng lại rõ ràng liên hệ đến bốn loại nghi vấn. “Tương xứng”, nghĩa là trước sau không trái nghịch; “tùy thuận”, nghĩa là tùy thuận chân lý; “hữu dụng”, nghĩa là tùy sức mà điều phục; “thường ủy” (còn gọi là ứng thuận), nghĩa là tùy thuận tịnh hạnh. Ví như năm loại âm thanh: thâm thúy, ngọt ngào, vừa ý, hiền từ, đáng ưa, theo như thứ tự gọi là mạnh mẽ, êm tai, vui sướng, rõ ràng, làm cho tất cả vui lòng . Ngài Đức Quang nói: “Như vậy, mỗi hai câu, câu sau hàm nhiếp ý nghĩa của câu trước. Đối với mọi nghi vấn, dùng bốn công đức để giải đáp”. Trong luận Du Già cũng nói: “Hoặc là dùng phương tiện thiện xảo để tuyên thuyết”, nghĩa là đối với những hữu tình thô ác phạm giới, nương vào tám câu, chỉ dẫn đúng như pháp, làm cho họ ngừng những việc ác, đối với chúng sanh bỏn sẻn, nói pháp bố thí mà điều phục họ, nhẫn đến nói pháp cho những chúng sanh sân hận kiên cố làm cho họ xả bỏ tâm sân hận, đây gọi là phương tiện thiện xảo; đối với chúng sanh đang cầu tài sản của cải, chỉ cho họ phương pháp, dùng ít sức lực, mà có thể được nhiều tài sản, giữ gìn không bị mất mát; đối với những người ghét bỏ Thánh giáo của chư Phật, hiển thị thần thông, làm cho họ sanh khởi lòng tin thanh tịnh, qui hướng Phật giáo; đối với chúng sanh đã vào trong Phật pháp, phải làm cho họ đoạn trừ kiến chấp, chứng được kiến giải thanh tịnh, thoát khỏi các nẻo ác.
G3. Làm lợi ích cho những người ơn.
Khi gặp người ơn, nên bày tỏ sự cung kính, mở lời chào hỏi, tươi cười tiếp đón, kéo ghế mời ngồi, cúng dường vật dụng, châu báu, hoặc bằng hoặc hơn (phần mà mình đã thọ nhận từ người ơn). Trong hiện đời khi báo đáp ơn nghĩa, không dùng những vật xấu kém. Đối với công việc của người ơn, tuy họ không nhờ đến, mình còn phải giúp đỡ họ, huống hồ khi họ có việc cần. Như thế, nhẫn đến dùng thần thông dẫn dắt họ vào đạo, cùng làm tất cả những sự lợi ích.
G4. Cứu hộ những sự xâm hại, sợ sệt.
a/ Sự xâm hại có hai loại: (1) Sự xâm hại của loài bàng sanh, nghĩa là ở nơi hoang dã thì bị sư tử, cọp, beo xâm hại, ở dưới nước thì bị các loài thủy tộc xâm hại, đây gọi là sự xâm hại của loài bàng sanh. (2) Sự xâm hại của loài người, nghĩa là hoặc bị nhà cầm quyền xâm hại, hoặc bị trộm cướp xâm hại, hoặc bị kẻ oán địch xâm hại, hoặc bị kẻ quyền thế xâm hại, đây gọi là bốn sự xâm hại của loài người.
b/ Sự sợ sệt gồm có: (1) Sợ không đầy đủ ba thứ đáng ưa: tài sản, hạnh lành, tài ăn nói; (2) hoặc sợ chết, (3) hoặc sợ tiếng xấu, (4) hoặc sợ uy đức của đại chúng, (5) hoặc sợ phi nhân; phi nhân có hai loại: (a) yêu tinh, (b) thây chết bị điều khiển bởi chú thuật. Những sự sợ hãi như vậy, đều phải nên cứu hộ.
G5. Làm cho những người đang ưu sầu khổ não được khai tâm mở ý.
Điều này có hai: (1) ưu khổ vì xa lìa thân thuộc, (2) ưu khổ vì mất mát của cải.
1/ Ưu khổ vì xa lìa thân thuộc có năm loại: (a) mất cha mẹ; (b) mất vợ con; (c) mất tôi tớ, bộ hạ; (d) mất bạn bè cùng những người thân thuộc trong ngoài; (e) mất thầy dạy và bạn đồng tu.
2/ Ưu khổ vì mất của cải có hai loại: (a) cùng nhân khổ của thế gian, (b) không cùng nhân khổ của thế gian.
(a) Cùng nhân khổ, nghĩa là, hoặc bị nhà cầm quyền, trộm cướp xâm đoạt, hoặc bị lửa cháy, hoặc bị nước cuốn trôi.
(b) Không cùng nhân khổ, có hai loại: (i) không giữ gìn tài sản đúng pháp, (ii) do người khác mà bị mất mát.
(i) không giữ gìn đúng pháp, có hai trường hợp: (1) giữ gìn tài sản không đúng pháp, nghĩa là bị người khác lừa gạt; (2) vận chuyển, cất chứa không đúng pháp, nghĩa là sự nghiệp vô cớ bị tổn thất.
(ii) do người khác mà bị mất mát, có hai trường hợp: (1) người oán địch cưỡng đoạt một cách phi lý, có chỗ nói: “do kẻ thân thuộc hung ác phi lý cưỡng đoạt”; (2) do con cái trong nhà hoang phí, có chỗ nói: “do con cái hư phung phí”.
Do những lý do mất mát tài sản, thân thuộc như trên, sinh khởi những sự sầu khổ phẩm hạ, trung, thượng, lúc đó phải nên nói pháp vô thường cho họ hiểu rõ. Sự sầu não có phẩm thượng, trung, hạ, nghĩa là: mất cha mẹ là phẩm thượng; mất tôi tớ là phẩm trung, còn mất tài sản là phẩm hạ. Phải biết đây là chỗ mà chúng sanh yêu mến, hoặc chỗ mà họ cần thiết.
G6. Làm lợi ích cho người thiếu thốn.
Có sáu trường hợp: (1) đối với người khổ vì đói khát, nếu họ xin thức ăn uống, cho họ thức ăn uống; (2) đối với người mệt nhọc, cho họ xe cộ; (3) đối với người hổ thẹn, nếu họ xin quần áo cho họ quần áo, nếu họ cần trang sức, cho họ đồ trang sức, bởi vì họ thiếu quần áo và đồ trang sức nên sanh lòng hổ thẹn; (4) đối với người khổ vì thiếu đồ vật, nếu họ xin đồ vật thì cho họ đồ vật; (5) đối với người khổ vì thân thể hôi hám, nếu họ đến xin hương, hoa, phấn thơm, thì cho họ hương hoa, phấn thơm; (6) đối với người thiếu chỗ nghỉ ngơi, hoặc cần đèn đuốc, người đến xin chỗ nghỉ ngơi, cho họ chỗ nghỉ ngơi, người tu hành siêng năng, đến xin đèn đuốc, thì cho họ đèn đuốc.
G7. Làm lợi ích cho người đến cầu nương tựa. Có hai trường hợp:
(1) Ưa muốn nhiếp thọ đệ tử: không phải vì cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, cung kính, mà chỉ vì lòng thương xót mà làm lợi ích, dùng tâm không tạp nhiễm mà cho họ nương tựa.
(2) Phương cách nhiếp thọ đệ tử, có hai trường hợp: (a) tài nhiếp, (b) pháp nhiếp.
(a) Tài nhiếp, có hai trường hợp: (i) cầu xin vật dụng từ người khác để cung cấp cho đệ tử: vì muốn nhiếp thọ đệ tử, phải nên từ các cư sĩ cầu xin y phục, thực phẩm, ngọa cụ, thuốc men, v.v..., cung cấp cho họ; (ii) đem đồ vật của mình cho đệ tử dùng chung, nghĩa là đem y phục, thực phẩm, v.v..., mà mình đã được cúng dường đúng như pháp ra để cho mọi người cùng hưởng dụng.
(b) Pháp nhiếp, cũng có hai trường hợp:
(i) Dạy dỗ, có tám trường hợp. Nói tóm lược thì có ba trường hợp.
(1) đối với những người chưa định tâm, có năm phương pháp chỉ bảo làm cho họ buộc tâm vào, nghĩa là đối với các phiền não như tham, sân, si, mạn và nghi, phải bảo họ tu tập ngũ đình tâm quán (quán bất tịnh, quán từ bi, quán duyên khởi, quán giới sai biệt và quán sổ tức) để đối trị;
(2) đối với người đã định tâm, có một phương pháp dạy bảo làm cho họ được lợi ích, nghĩa là chỉ dẫn họ tu tập pháp quán trung đạo, xa lìa sự chấp đoạn, chấp thường;
(3) đối với người mà việc tu hành chưa được hoàn tất cứu cánh, có hai phương pháp chỉ bảo làm cho họ lìa bỏ những chướng ngại trong việc tu hành, nghĩa là xa lìa hai sự tăng thượng mạn: (a) chưa tu lại tự cho là đã tu; (b) chưa chứng quả lại tự cho là đã chứng quả.
Phải biết ba điều trên bao quát tám trường hợp dạy dỗ.
(ii) Răn nhắc, có năm trường hợp: (a) ngăn chặn làm việc ác; (b) khuyến khích làm việc lành; (c) nếu tạm thời vi phạm, phải nên như pháp can gián chỉ bảo; (d) nếu như thường thường vi phạm giới luật, tiếp tục làm ác, thì phải nên như pháp điều phục; (e) đối với người tuân thủ giới luật, thì nên hoan hỷ khen ngợi.
G8. Tùy tâm chúng sinh mà làm lợi ích. Có hai phần:
(1) Nói sơ lược: Lúc Bồ tát tùy thuận tâm tính của chúng sinh để làm lợi ích, trước hết phải hiểu rõ, hoặc tâm tính, hoặc thể tính, hoặc căn tính của chúng sinh đó. Sau khi hiểu rõ, nếu có thể ở chung thì sẽ ở chung, nếu có thể cộng tác thì sẽ cùng họ cộng tác. Tâm tính, tức là những tâm như thiện, ác, sân hận, từ bi, v.v..., căn tính, tức là sự tin ưa, còn thể tính, tức là phiền não. Phải nên quán xét kỹ càng căn cơ của họ, trước khi tùy thuận làm lợi ích,.
(2) Nói chi tiết: Lúc Bồ tát tùy thuận chúng sinh, phải nên chú ý đến những việc tổn hại hoặc lợi ích cho đối phương. Nếu như Bồ tát muốn tùy thuận theo tâm chúng sinh, phải nên quán sát lời nói cử chỉ của mình, có làm cho chúng sinh phát sinh sầu khổ hay không. Nếu như sự sầu khổ đó không thể làm cho họ xa lìa pháp ác, quay về nẻo lành, thì Bồ tát lúc đó sẽ cố gắng không làm cho chúng sinh đó sầu khổ; còn nếu như sự sầu khổ đó có thể làm cho họ xa lìa pháp ác, quay về nẻo lành, thì Bồ tát lúc đó không nên tùy theo ý họ, mà phải dùng tâm thương xót, tìm đủ phương tiện, làm cho họ sầu khổ, mục đích giúp cho họ được sự lợi ích cứu cánh.
Tất cả phương tiện vừa nêu ra, không ngoài mục đích tránh cho chúng sinh sầu khổ. Nếu có chúng sinh nhân đây sinh khởi phiền não, Bồ tát phải tạm xả bỏ phương tiện này. Như phần trên đã nói qua.
Giả như Bồ tát dùng những phương tiện, không phải vì tùy thuận chúng sinh, mà do sự tự chuyên, biểu hiện thân khẩu, làm cho bọn họ sầu khổ, nếu như những phương tiện đó, (1) hoặc không ở trong học xứ của Bồ tát, (2) hoặc không phải là tư lương cho phúc đức hoặc trí tuệ, (3) hoặc không thể làm cho họ xa lìa pháp ác, an trụ trong pháp lành, lúc đó Bồ tát vì muốn hộ trì tâm của họ, thì phải nên lập tức đình chỉ, không được dùng những phương tiện này. Còn nếu như tương phản với ba điều trên, thì Bồ tát nên dùng tâm thương xót, nỗ lực tinh tiến, sử dụng những phương tiện vừa đề cập để làm lợi ích cho họ. Như phần trên đã giảng qua.
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, nếu biết chúng sinh đó tâm nhiều phẫn hận, ôm ấp sự giận dữ không chịu xả bỏ, lúc đó Bồ tát còn không khen ngợi họ, huống chi là quở trách, và hơn nữa, cũng chẳng nên khuyên can họ.
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, thấy có người ngu si, không hiểu đạo lý, thì dù người đó không đến thăm viếng hỏi han, Bồ tát còn phải tự mình tìm đến thăm viếng hỏi han họ, huống là người ấy tìm đến thăm viếng hỏi han mà Bồ tát lại không chịu thù đáp?
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, lúc khuyên nhắc hoặc quở trách, không bao giờ cố ý xúc phạm làm cho họ phiền não, mà phải dùng tâm từ bi, bên ngoài hiện vẻ an hòa mà khuyên nhắc hoặc quở trách.
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, vì sợ họ sinh khởi nhân duyên khinh miệt mình sau này, không bao giờ ở giữa đám đông mà cười nhạo khinh khi làm cho họ phải hổ thẹn; hơn nữa, vì sợ họ sống không an ổn, không nên làm cho họ sầu não. Tuy có năng lực thắng được đối phương, nhưng không bao giờ phô bày sự thua kém của họ, vì sợ họ sinh khởi mặc cảm tự ti. Tuy họ có lòng tin sâu xa, tỏ ra khiêm hạ, Bồ tát không bao giờ hiện tướng tự cao hách dịch, vì sợ làm cho họ sinh tâm khiếp nhược.
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, tuy cũng tới lui với họ, nhưng không nên quá thân mật, không nên thường tới lui, vì sợ họ bị gián đoạn công việc, sinh tâm nhàm chán. Hơn nữa, không nên tới lui sái thời, mà phải nên biết giờ giấc. Ba sự việc trên, các chú sớ khác không có giải thích.
Lại nữa, Bồ tát tùy thuận tâm chúng sinh, không bao giờ ở trước mặt họ, hủy báng người mà họ yêu thích, hoặc khen ngợi người mà họ không ưa thích, vì sợ họ không được vui lòng.
Nếu như không phải thâm giao, không bao giờ thổ lộ tâm sự của mình, vì sợ tâm tình không hợp.
Không nên hy vọng người khác cúng dường mình. Biết vừa đủ mà thọ nhận, vì sợ họ sinh tâm chán ghét, chê cười, giận hờn, bất kính, không còn bố thí với lòng tin tha thiết như xưa, hoặc giả, họ lại còn khởi tâm muốn đòi lại vật đã cúng.
Nếu như tín chủ mời đến thọ trai, Bồ tát không bao giờ thoái thác, vì sợ họ phật lòng, phải nên an hòa từ tốn, dùng những lý do chính đáng mà thoái từ, chẳng hạn như phải đọc tụng, tu thiền, trì giới, v.v..., làm cho thí chủ tâm tình hoan hỷ.
G9. Làm lợi ích cho người tu chánh hạnh.
Đối với những người tu hành, đầy đủ tín tâm, trì giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, v.v..., phải nên xưng dương tán thán công đức của họ, chẳng hạn, đối với người tu hạnh trì giới, bố thí đầy đủ, thì ca ngợi hạnh trì giới, bố thí là nhân của sự tôn quý, trong tương lai họ sẽ được thân tướng trang nghiêm, của cải tràn đầy; đối với người tu hạnh trí tuệ, thì ca ngợi họ đã trồng nhân cho sự giải thoát; đối với người tu hạnh đa văn, thì tán thán họ đã trồng nhân trí tuệ; đối với người tu tập tín tâm, thì ca ngợi họ đã trồng được nhân cho sự tôn quý (trì giới, bố thí) và giải thoát (đa văn, trí tuệ).
G10. Làm lợi ích cho những người phạm tội.
Đối với chúng sinh phạm tội, hoặc nhẹ, hoặc vừa, hoặc nặng, phải dùng tâm không tổn não, không sân hận, theo đúng như pháp mà quở trách. Việc trị phạt cũng tương tự như trường hợp quở trách.
Nếu như chúng sinh phạm tội, hoặc nặng, hoặc vừa, hoặc nhẹ, lúc ấy Bồ tát dùng tâm thương xót răn dạy họ và những người khác. Dùng lòng từ bi, phương tiện trục xuất người phạm tội, hoặc một tháng, hai tháng, cho đến nhiều năm, sau đó mới thâu nhận lại.
Nếu như chúng sinh phạm tội nặng, lúc đó Bồ tát vì thương xót người đó, không muốn cho họ tổn hoại thêm nhiều phước báo, lại vì muốn răn dạy những người khác, bèn phải trục xuất họ vĩnh viễn, không thâu nhận lại. Ở đây, tổn hoại nhiều phúc báo, là sự hưởng dụng của tín thí một cách không xứng đáng, hoặc ngang nhiên thọ nhận sự lễ lạy của những bạn đồng tu; lỗi lầm, là đối với những việc đúng lý nên làm mà không làm; còn vi phạm, là đối với những việc không nên làm mà lại làm. Điều này giống như ngài luận sư Đức Quang đã nói.
G11. Dùng thần lực làm lợi ích.
Vì muốn làm lợi ích chúng sinh, dùng thần lực điều phục họ. Có hai trường hợp.
1/ Dùng thần lực khủng bố họ: Hóa hiện cho họ thấy những địa ngục nóng, lạnh, v.v..., sau đó nói với họ: “Ông sống trên đời đã từng gây tạo nhiều điều ác, nay phải chịu những quả báo như vậy”, làm cho họ khiếp sợ, không còn dám làm điều ác nữa. Lại có một loại chúng sinh không có lòng tin, Bồ tát đã ở trong đại chúng tùy việc tra hỏi, nhưng đối phương lại ngoan cố, cự tuyệt không chịu trả lời. Lúc ấy Bồ tát bèn hiện Chấp kim cang thần, hoặc biến ra quỉ dạ xoa to lớn dữ tợn khủng bố đối phương, làm cho họ vì lý do này mà sinh khởi lòng tin tưởng kính trọng, trả lời những câu hỏi một cách chính đáng. Những người chung quanh cũng nhờ đó mà được điều phục. Ngài Tối Thắng Tử nói: “Điều này muốn nói rằng đối phương muốn làm tổn hoại thanh danh của Bồ tát ở trước đại chúng, thành thử mới tỏ thái độ ngoan cố, cự tuyệt không trả lời. Vì muốn đối phương phải trả lời chính đáng những câu hỏi của mình nên lúc đó Bồ tát mới phải hiện thần lực làm cho họ sợ hãi.”
2/ Dùng thần lực để dẫn dắt họ: Hoặc một thân hoá ra nhiều thân, nhiều thân nhập thành một thân, hoặc đi xuyên qua núi, vách đá, v.v..., tới lui không chướng ngại, nhẫn đến biến thành thân trời Phạm thiên một cách tự tại, thân trên phụt lửa, thân dưới phun nước.
Hiện các loại thần biến khác biệt, hoặc nhập Hỏa giới định, v.v..., dùng phương tiện dẫn dắt nhiếp thọ, làm cho chúng sinh khởi lòng vui mừng, làm cho những người chưa tin, những người phạm giới, những người dốt nát, những người bỏn sẻn, những người tà kiến, đều được đầy đủ tín, giới, xả, tuệ, v.v...
Như vậy, mười một hành tướng của giới nhiêu ích hữu tình, các sớ giải khác giải thích có phần không đồng. Chỉ có quyển Giới Thập Nhị Tụng Nan Thích là giải thích giống như phần trên, nghĩa là ba loại trợ giúp đều cùng một tướng. Điều này rất khế hợp với luận Du Già. Ngài Tối Thắng Tử nói: “Những điều làm cho tăng trưởng phước đức của chính mình thì gọi là Thiện pháp giới, còn những điều dẫn phát ý nguyện làm lợi ích cho chúng sinh thì gọi là Nhiêu ích hữu tình giới”. Ý muốn nói, tuy chưa chân thực làm lợi ích, nhưng tâm đã khởi ước nguyện làm điều này thì được gọi là Nhiêu ích hữu tình giới. Thế nhưng, luận Du Già chỉ đề cập đến những điều Nhiêu ích hữu tình giới chân thực lợi ích cho chúng sinh. Nếu như chưa thực sự lợi ích cho người khác, thì chưa được gọi là đầy đủ Nhiêu ích hữu tình giới. Tuy chưa đầy đủ, nhưng cũng không sai, giống như đang lúc chúng ta tán loạn hoặc hôn trầm, tuy không có tâm phòng hộ, nhưng cũng không thể gọi là phạm giới luật nghi.
Phát Bồ Đề Tâm Nghi Quyõ nói: “Lúc mới phát tâm, dùng Luật nghi giới làm căn bản, gọi là nguyện hành; lúc giải ngộ hành trì, dùng Thiện pháp giới làm căn bản, gọi là tĩnh lự hành; lúc Đăng Địa, dùng Nhiêu ích hữu tình giới làm căn bản, gọi là hoan hỷ hành”. Tuy có ba loại căn bản giới hành trước sau như vậy, thế nhưng, từ lúc vừa thọ giới xong, những người chưa có thần thông, tuy chưa thể chân thực làm lợi ích cho chúng sinh, vẫn phải siêng năng tu tập Nhiêu ích hữu tình giới. Do đó, ngài Thượng sư Vô Trước đã phân biệt cảnh giới của sự nhiêu ích hữu tình mà tuyên thuyết giới tướng của Nhiêu ích hữu tình giới một cách rõ ràng thiết yếu. Chúng ta phải nên hiểu rõ, phải nên nương tựa vào đó mà tu học hạnh nhiêu ích hữu tình. Đây gọi là Bồ tát thành tựu tất cả các loại Nhiêu ích hữu tình giới.
E4. Thâu góp ý nghĩa chánh yếu.
Như Bồ Tát Địa nói, ba tạng giới của Bồ tát, Luật nghi giới, Thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới, bao quát vô lượng tịnh giới học xứ, cũng gọi là vô lượng đại công đức tạng. Phần Bồ Tát Địa trong Quyết Trạch Phần của Du Già Sư Địa Luận, đem ba tạng giới này, gom thành ba tụ tỳ nại da (ba tụ giới).
Về phần Luật nghi giới, phải nên y theo giới biệt giải thoát cùng những điều đã được nói trong các bộ quảng luật mà tu học.
Về phần Nhiếp thiện pháp giới, phải nên siêng năng tu tập quán sát sáu tâm.
Như Nhiếp Trạch Phần nói: “Nên biết Bồ tát tỳ nại da, khái lược có ba tụ. Thứ nhất là Luật nghi giới tỳ nại da, tức là giới tướng tỳ nại da mà Đức Bạc Già Phạm đã chế định để độ hóa hàng Thanh văn.
Còn Nhiếp thiện pháp giới là gì? Tức là các vị Bồ tát trong lúc siêng năng tu tập Nhiếp thiện pháp giới, cần phải khéo léo quán sát sáu tâm. Sáu tâm đó là gì? Một là tâm khinh miệt, hai là tâm biếng nhác, ba là tâm bị che chướng, bốn là tâm mệt mỏi, năm là tâm mang bệnh, sáu là tâm có ma chướng.
Nếu như Bồ tát có tâm coi thường, tâm không thắng giải , cùng tâm lăng miệt, thì gọi là có tâm khinh miệt. Nếu tâm lười biếng, mê đắm, phóng dật, thì gọi là tâm biếng nhác. Nếu như tâm bị một hay nhiều phiền não trói buộc, che chướng, thì gọi là tâm bị che chướng. Nếu như vì gắng sức nỗ lực tinh tiến mà thân tâm bị mệt mỏi, bần thần, thì gọi là tâm mệt mỏi vì gắng sức. Nếu như có bệnh làm tổn hại đến tâm, làm cho không còn sức lực tu hành, thì gọi là tâm mang bệnh. Nếu như tâm có những ma chướng như ham thích đàm luận thị phi, v.v..., thì gọi là tâm có ma chướng.”
Nếu như sinh khởi sáu loại tâm như vậy, tùy hành giả nhẫn thọ hay không nhẫn thọ mà gọi là có tội hoặc không có tội. Luận Du Già Sư Địa lại nói: “Bồ tát phải nên quán sát kỹ lưỡng sáu loại tâm này, xem bọn chúng có đang hiện tiền hay không. Đối với ba loại tâm đầu, Bồ tát nhất quyết không nên sinh khởi. Giả như đã sinh khởi, không nên nhẫn thọ (nghĩa là phải tìm cách trừ diệt ngay), nếu như nhẫn thọ không chịu xả bỏ, thì tất cả (hành động) đều là có tội. Nếu như tâm mệt mỏi sinh khởi, nó có thể làm cho hành giả xả bỏ những phương tiện khéo, thế nhưng, nếu chỉ tạm thời nghỉ ngơi cho thân tâm đỡ mỏi mệt, để tương lai tu tập nhiều thiện pháp hơn, thì việc này (nghỉ ngơi, không phải là biếng nhác) không có tội.
Nếu như xả bỏ tất cả, cho rằng mình cần gì phải tu tập những pháp thiện này để phải chịu khổ, nếu nghĩ như vậy, thì sẽ có tội. Lúc tâm mang bệnh hiện tiền, Bồ tát không được tự tại, không thể tu pháp thiện theo ý mình, tuy phải (bất đắc dĩ) nhẫn thọ, nhưng không có tội. Nếu như tâm ma chướng hiện tiền, nếu như không bị đọa lạc, hoặc thấy việc làm đó có được nghĩa lợi lớn, tuy có nhẫn thọ, vẫn không có tội. Còn như nếu bị đọa lạc, hoặc thấy việc làm không có hoặc ít có nghĩa lợi mà vẫn nhẫn thọ, thì sẽ có tội.
Đối với sáu tâm trên, nếu ba tâm đầu sinh khởi mà vẫn nhẫn thọ, thì đều là có tội. Nếu tâm có bệnh, tuy phải nhẫn thọ, hoàn toàn vô tội. Hai tâm còn lại, nếu sinh khởi mà vẫn nhẫn thọ, thì hoặc là có tội, hoặc là vô tội.
Trong lúc thực hành giới Nhiêu ích hữu tình, phải nên quán sát sáu việc. Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Nếu chư Bồ tát, trong lúc siêng năng tu tập thực hành giới lợi ích hữu tình, phải nên chân chánh quán sát sáu việc, nghĩa là: mình, người, tài suy, tài thạnh, pháp suy, pháp thạnh, đây gọi là sáu việc.”
Tài suy, nghĩa là y phục, thực phẩm, v.v..., chưa được thì không được, còn đã được thì bị gián đoạn, hư hoại. Nếu tương phản với những tướng trạng vừa nói thì gọi là tài thạnh.
Pháp suy, nghĩa là không nghe những điều chưa được nghe, chẳng hạn như những pháp thắng nghĩa, hoặc Đức Như Lai giảng nói những pháp vi diệu, đây gọi là sự nghe pháp bị chướng ngại; những điều trước kia chưa tư duy nghĩa lý, thì không còn cơ hội tư duy, giả sử có nghe pháp hoặc tư duy chăng nữa, chẳng bao lâu lại quên mất, đây gọi là sự tư duy nghĩa lý bị chướng ngại; đối với pháp lành đã tu mà chưa chứng đắc thì không chứng đắc, hoặc giả có chứng đắc chăng nữa, cũng bị thoái thất, đây gọi là sự tu tập bị chướng ngại. Nếu tương phản với những tướng trạng trên thì gọi là pháp thạnh.
Trong đây, mình, người, tức là chỗ nương của tài, pháp, thạnh, suy.
Lại quán sát tướng trạng tiến, thoái của sáu việc, hoặc là có tội, hoặc là vô tội.
Như trong Luận có nói: “Trong đây, Bồ tát làm cho pháp của mình suy để cho tài của người khác thạnh, đây là điều không nên làm. Tương tự, làm cho pháp mình suy để pháp người khác thạnh, cũng là điều không nên làm.
Ý nghĩa ở đây muốn nói, những trường hợp, hoặc nhiếp vào “việt sở học”, hoặc nhiếp vào “tùy thuận việt sở học”, hoặc nhiếp vào “thoái thất pháp đã chứng đắc”, nên biết đây đều là pháp suy.
Lại nữa, chư Bồ tát làm cho tài mình suy để cho tài người khác thạnh, nếu như điều này không làm cho pháp mình suy, thì đây là điều nên làm; nếu như đưa đến pháp mình suy, thì điều này không nên làm. Trường hợp làm cho pháp người khác thạnh cũng tương tự như vậy.
Lại nữa, chư Bồ tát làm cho tài mình thạnh để cho tài người khác thạnh, đây là điều nên làm. Trường hợp làm cho pháp người khác thạnh cũng tương tự như vậy.
Lại nữa, chư Bồ tát làm cho pháp mình thạnh để tài người khác thạnh, đây là điều nên làm. Làm cho pháp mình thạnh để pháp người khác thạnh cũng tương tự như vậy.
Đối với những việc như vậy, nếu như không tu tập, gọi là có tội. Nếu như chân chánh tu tập, thì gọi là vô tội.
Như vậy, đối với ba tụ tịnh giới (tiết lược tỳ nại da) mà chư Bồ tát thọ trì, Bồ tát phải nên chú ý, tư duy tu học.”
Như vậy, Bồ tát đối với hữu tình, muốn thực hành pháp lợi, hoặc tài lợi, nếu như tự mình hủy hoại học xứ (Bồ tát giới) mà mình đã thọ, hoặc tuy chưa hủy hoại nhưng sắp sửa hủy hoại, hoặc đã hủy hoại nay thọ lại, hoặc vừa mới thọ lần đầu, do những lý do này mà không thể thực hiện được lợi ích cho người khác, trong những trường hợp này thì vô tội.
Nếu như việc lợi ích cho người khác, tuy làm cho tài của mình suy nhưng pháp không suy, nếu như không làm, thì gọi là có tội. Nếu như đưa đến pháp của mình suy, thì không nên làm.
Nếu như làm cho tài, pháp của mình thạnh, mà không làm cho người khác thành tựu hai điều này (tài thạnh, pháp thạnh), thì gọi là có tội.
Lại nữa, việc làm lợi người, hoặc có khi có tội, hoặc có khi vô tội. Như Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Nếu chư Bồ tát, đối với các hữu tình có ơn của mình, tùy thuận lòng mang ơn, tiếp tục phát khởi ý thích thân thiện, dùng tâm nhiễm ô (thiên vị), tìm phương cách nhiếp thọ, mong làm bè đảng vây cánh, nên biết đây là có tội; hoặc đối với các hữu tình có oán với mình, tùy thuận lòng ác cảm, tiếp tục phát khởi tư tưởng oán thù, có tâm xấu xa, nên biết đây là có tội; hoặc đối với các hữu tình không ơn không oán, tiếp tục phát khởi ý tưởng lạnh nhạt, xả bỏ, nên biết đây là có tội. Giả sử hiện tiền có người muốn xuất gia, phải nên tùy thuận quán sát người đó, nếu như vì thời gian chưa thích hợp, hoàn cảnh chưa thích hợp, không độ cho họ xuất gia, thì không có tội. Còn nếu như có lòng thương xót đối phương, tuy độ cho họ xuất gia, cũng không có tội. Tương tự với trường hợp độ xuất gia, các trường hợp truyền thọ giới cụ túc, nhận làm y chỉ, thâu làm đệ tử, cũng giống như vậy. Do những hành tướng vừa đề cập ở trên, nên biết ba loại giới của Bồ tát đều được viên mãn.”
Sau khi chánh thức thọ Bồ tát luật nghi, đối với ba tụ tịnh giới này, đều phải cung kính giữ gìn. Thế nhưng đối với giới luật nghi căn bản, chung với giới biệt giải thoát của bảy chúng, lại càng phải nên siêng năng học tập. Nhiếp Quyết Trạch Phần lại có nói: “Ba tụ tịnh giới, đều do giới luật nghi nhiếp trì, làm cho chúng hòa hợp. Nếu như có thể tinh tiến giữ gìn giới luật nghi, thì cũng là tinh tiến giữ gìn hai loại giới kia. Nếu đối với giới luật nghi không thể giữ gìn, thì cũng không thể giữ gìn hai loại giới kia. Do đây biết rằng nếu hủy phạm giới luật nghi, thì gọi là hủy phạm tất cả giới luật của Bồ tát.”
Hỏi: Như vậy, sau khi chánh thức thọ Bồ tát giới rồi, trong ba loại giới này, nên thọ trì một loại, hay là thọ trì cả ba?
Trả lời: Giới luật Bồ tát chỉ có một loại, không phải như giới biệt giải thoát có nhiều loại. Nếu như thọ trì, đối với các điều giới phải học, không thể chỉ thọ trì một phần, mà phải thọ trì tất cả. Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Nếu như trong ba tụ Bồ tát giới đã thọ, khiếm khuyết (nghĩa là không hành trì) bất cứ tụ nào, nên biết Bồ tát đó không giữ giới luật. Phải nói là người đó không giữ gìn Bồ tát giới luật, không thể nói là giữ gìn.”
Hỏi: Nếu vậy, ắt như Học Tập Luận nói: “Cho nên, phải tùy theo khả năng của mình, đối với một pháp lành, cũng nên chánh thức thọ trì thủ hộ”. Kinh Thánh Địa Tạng nói: “Mười pháp lành như vậy, có thể đưa đến quả Phật. Nếu như có người, cả suốt cuộc đời, không thể tu tập một pháp lành, mà lại tự xưng là hành giả Đại thừa chân thực, đang cầu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên biết đó là người vô cùng dối trá, nói đại vọng ngữ, đối trước mười phương chư Phật mà dám lừa dối thế gian, nói lời đoạn diệt. Đó là người ngu si, đến lúc chết đi, sẽ bị đọa vào các đường ác.” Do đây mà biết, nếu như trong khoảng thời gian ngắn, tu tập các pháp lành, cũng được gọi là an trụ trong pháp lành. Ý nghĩa này cũng thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Kinh nói đến. Như vậy, đối với giới luật, giữ gìn một phần, có thể gọi là giới Bồ tát không?
Trả lời: Ở đây không có nghĩa là người học tập Bồ tát giới phải nên làm như vậy.
Đây là vì có những người phát tâm nguyện, nhưng không thể thọ trì toàn bộ Bồ tát giới, vì muốn bọn họ từ từ tu tập, tùy theo năng lực của họ, mà cho họ học tập một phần của Bồ tát giới; hoặc trong khoảng thời gian ngắn, hộ trì những điều giới đang học tập. Đối với giới luật Bồ tát, tùy theo năng lực có thể giữ giới mà thọ ít nhiều. Nếu như hoàn toàn không thọ, tức là lừa dối chư Phật Bồ tát cùng các hàng trời người. Trong luận Du Già, vì muốn nêu rõ những lỗi lầm như vậy, nên đã dẫn chứng kinh trên, lại nói thêm rằng: “Nếu những hữu tình phát tâm rộng lớn, nghe nói như thế, dùng trí tuệ quán sát, biết rằng Bồ tát hạnh là khó thực hành nhất, bèn phát tâm dũng mãnh, gánh vác việc lớn, cứu hộ chúng sinh, dứt trừ gốc rễ của sự khổ.” Đây là do nghe được những điều lỗi lầm của sự không bảo hộ học xứ đã thọ, biết rằng Bồ tát hạnh là khó thực hành nhất, giả như đối với học xứ có thể gánh vác không sợ hãi, thì mới có thể tu trì tịnh giới của Bồ tát.
Nếu như nghe lỗi lầm của sự không hộ trì giới luật, biết Bồ tát hạnh là điều khó thực hành nhất, nhưng đối với học xứ không thể hoàn toàn gánh vác, thì nên phát nguyện tuần tự mà tu học Bồ tát hạnh. Nếu như tâm lực rộng lớn, phải nên thọ trì toàn bộ Bồ tát giới. Nên biết đây là ý nghĩa chân thực của kinh Dược Sư. Những nghĩa như vậy, nếu đọc kỹ bộ kinh đó sẽ biết.
Chú thích:
Ngũ cái là tham dục, sân hận, nghi pháp, hôn trầm và phóng dật.
Tư lương: là các thiện pháp chuẩn bị cho con đường giải thoát, như quy y, thọ giới, phát Bồ đề tâm, tu bát giải thoát, ngũ đình tâm quán, thập biến xứ, ...
Thắng giải: đối với cảnh sở duyên, quyết định thừa nhận, không còn bị lay động.
Việt sở học: vượt quá sự chế định của Bồ tát học xứ.
|