TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

A Di Da

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận
 

 

Thượng sư Tsong Kha Pa tạo luận
Thang Hương Danh dịch Tạng Hán
Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt

 

Bồ Đề Chánh Đạo
Bồ Tát Giới Luận


Phần 2

C2. Nói tường tận về tất cả giới.

Có ba phần. Phần một là giới pháp, phần hai là lãnh thọ giới pháp, phần ba là phòng hộ giới pháp.

D1. Giới pháp.

Phần một lại có bốn phần: (1) phân biệt, (2) tự tính, (3) nhân duyên đầy đủ, (4) tập hợp đầy đủ nghĩa thiết yếu.
           
E1. Phân biệt. Sơ lược có hai loại:
F1. Phân biệt sở y.

Sở y có hai: một là Bồ tát tại gia, hai là Bồ tát xuất gia, cùng tất cả những người thuộc về hai chúng Bồ tát này. Như vậy, những giới pháp mà hai hàng tại gia, xuất gia y chỉ được gọi là tất cả giới pháp. Do vì mỗi người y chỉ học tập tất cả giới pháp, nên gọi là Bồ tát tại gia, Bồ tát xuất gia.
           
Lại nữa, ngài Tối Thắng Tử có nói: “Ba ác đạo và cõi trời chỉ có sự tự nhiên thọ giới, nghĩa là chỉ có giới pháp tại gia; riêng cõi người thì có cả hai loại giới pháp, tại gia và xuất gia.” Trát Mục Tra Sớ nói: “Ba ác đạo và cõi trời sắc giới, không từ người khác thọ giới, mà chỉ có sự tự nhiên thọ giới; còn cõi trời người trong dục giới thì có hai cách thọ giới: tự nhiên thọ giới và từ người khác thọ giới, cho nên có hai loại giới tại gia và xuất gia. Như vậy, người thọ giới pháp Bồ tát, sau khi chết, tuy luân chuyển trong ba cõi, nhưng giới thể vẫn vĩnh viễn không mất, tùy chỗ thọ sanh, tự nhiên được lại giới thể.”
           
Nói tóm tắt, người thọ giới, tuy sau khi mất, lưu chuyển trong ba cõi, nhưng giới thể của Bồ tát tịnh giới vẫn duy trì liên tục, vĩnh viễn không mất. Ở đây, nói có hai loại tại gia và xuất gia, là do các vị Bồ tát đối với năm loại giới xuất gia, như sa di, v.v..., có thọ trì đầy đủ hay không mà có sự phân biệt.

F2. Phân biệt tự tính.

Y cứ vào hai phần tịnh giới tại gia và xuất gia này, nói sơ lược về ba loại: (1) luật nghi giới, (2) nhiếp thiện pháp giới, (3) nhiêu ích hữu tình giới. Ba loại giới này hàm nhiếp tất cả giới pháp mà Bồ tát thọ trì.
           
Vì sao ba loại giới trên có tên như vậy? Theo các bộ sớ giải khác, có hai lối giải thích: (1) Có người nói: “Trong Thanh văn thừa có ba loại luật nghi, giống như ba tụ giới ở đây, nghĩa là (a) biệt giải thoát luật nghi, hàng phục phiền não, (b) tĩnh lự luật nghi, tạm thời dứt hết các duyên, (c) vô lậu luật nghi, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả phiền não.” (2) Lại có người nói: “Hạnh của Bồ tát, phát khởi từ hai việc: (a) tự thành thục chính mình và (b) thành thục người khác. (a) Do vì muốn tự thành thục chính mình mà xa lìa hành động ác, tích tập công hạnh lành, cho nên có hai loại giới luật nghi và nhiếp thiện pháp, (b) do vì muốn thành thục người khác, cho nên phải gìn giữ nhiêu ích hữu tình giới. Đây là ý nghĩa của ba tụ giới của Bồ tát.” Trong hai lối giải thích vừa nêu trên, chúng ta nên y theo lối giải thích thứ hai.

Vì sao lại sắp đặt ba giới theo thứ tự trên (luật nghi, nhiếp thiện pháp và nhiếp hữu tình)? Trát Mục Tra Sớ nói: “Giới viễn ly (nhiếp luật nghi) thì chung cho cả hai (Bồ tát lẫn Thanh văn), còn hai giới sau (nhiếp thiện, nhiếp chúng sanh) đều lấy giới luật nghi làm nhân, thế nhưng, khi hành trì thì không thể hỗn tạp. Hành trì không hỗn tạp, nghĩa là tự mình chưa được đắc độ thì chưa thể độ người khác, tự mình chưa đoạn trừ phiền não thì chưa thể đoạn trừ phiền não cho người khác, tự mình chưa tu pháp lành, thì chưa thể làm lợi ích cho chúng sanh (nhiêu ích hữu tình). Cho nên đã nói theo thứ tự trên.”

E2. Tự tính. Có ba phần:
F1. Luật nghi giới.

Tức là các Bồ tát thọ trì giới biệt giải thoát luật nghi của bảy chúng (giới tỳ kheo, giới tỳ kheo ni, giới chánh học nữ, giới cần sách nam, giới cần sách nữ, thuộc về giới xuất gia; giới cận sự nam, giới cận sự nữ, thuộc về giới tại gia).

            Hơn nữa, giới biệt giải thoát thực sự có tám loại, nhưng ở đây không liệt kê cận trụ giới (bát quan trai giới) là vì như Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích nói: “Chỉ thọ trì một ngày đêm, không phải là điều khó làm, không thể vĩnh viễn xa lìa sự dâm dục, không thể thọ trì liên tục (trong thời gian lâu dài), cho nên không liệt kê.” Còn Trát Mục Tra Sớ thì nói: “Giới cận trụ (bát quan trai) là chỗ y chỉ của cận sự nam, cận sự nữ, cho nên không liệt kê.” Nếu nói giới cận trụ (bát trai giới) bị bao hàm trong giới cận sự (ngũ giới), thì điều này không đúng với sự thực. Trát Mục Tra Sớ lại nói: “Giới chánh học nữ (thức xoa ma na) được bao hàm trong giới tỳ kheo ni.” Điều này cũng không đúng.

            Hỏi: Nếu vậy, giới luật nghi của Bồ tát có khác biệt với giới luật nghi của bảy chúng hay không?” Nếu nói khác biệt, thì tương phản với lập luận của Bồ Tát Địa, bởi vì trong Bồ Tát Địa, ngoài giới luật nghi của bảy chúng ra, không thấy nói đến các giới khác. Còn nếu nói không khác biệt, thì có phải giống như giới biệt giải thoát, nghĩa là sau khi mạng chung, giới thể cũng sẽ bị mất, và như vậy các hàng trời người, v.v..., tuy muốn phát tâm tu học ba tụ tịnh giới của Bồ tát, rốt ráo cũng không thể được giới thể luật nghi của Bồ tát?

            Trả lời: Nếu là hàng xuất gia, đầy đủ Bồ tát giới, thì trong những loại giới biệt giải thoát của năm chúng xuất gia, tùy thọ một loại giới, thì đó tức là giới luật nghi của Bồ tát; còn hàng Bồ tát tại gia, đối với hai loại giới biệt giải thoát của hàng tại gia, tùy thọ một loại giới, tức là giới luật nghi của Bồ tát. Hàng trời người, không cần phải nương vào giới biệt giải thoát, cũng vẫn có thể đắc được giới thể của Bồ tát. Ví như giới viễn ly, nghĩa là xa lìa mười nghiệp bất thiện, hoặc là xa lìa bảy nghiệp bất thiện của thân và miệng, là tướng chung của giới biệt giải thoát và giới luật nghi của Bồ tát, mà không phải là tướng riêng của giới biệt giải thoát.

            Đạo Cự Luận Sớ nói: “Bồ tát luật nghi giới, nghĩa là bảy loại giới biệt giải thoát phòng hộ chế tội, giới phòng hộ tính tội, và giới phòng hộ mười điều bất thiện.” Trong đây, phần đầu (bảy loại giới luật nghi) là thể của giới biệt giải thoát, còn phần sau (giới phòng hộ tính tội, và giới phòng hộ mười điều bất thiện) là tướng chung với bảy loại giới biệt giải thoát. Lại nữa, Ma Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận nói: “Luật nghi giới là giới ngăn chặn, nghĩa là phải như thực xa lìa bảy ác (thân ba, khẩu bốn), mà lại có thể sinh khởi ba loại pháp lành, tức là vô tham, vô sân, và chánh kiến.” Bộ luận trên lại nói: “Sau khi sinh khởi (ba loại pháp lành), lại do đầy đủ lực tăng thượng của giới, nên có thể thành tựu mười nghiệp lành.”

            Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích nói: “Bồ Tát Địa nói về giới luật nghi, cho rằng Bồ tát thọ biệt giải thoát luật nghi của bảy chúng, phải nên biết rằng biệt giải thoát giới là một phần của Bồ tát giới, cả hai đều cùng một thể tính. Cho nên người đầy đủ biệt giải thoát luật nghi, tức là người có căn khí chánh thức thọ giới Bồ tát, được phép lãnh thọ những học xứ mà Bồ tát cần phải học, nghĩa là trong giới Bồ tát luật nghi, những giới như cấm sát sanh, v.v..., đều không khác với giới biệt giải thoát. Nếu như chưa thể đình chỉ việc tạo nghiệp thì không thể trở thành căn khí thọ giới Bồ tát.” Điều mà đoạn văn trên muốn nói, có nghĩa là vì không đình chỉ những nghiệp sát sanh, v.v..., cho nên không thể trở thành căn khí thọ giới Bồ tát. Nếu suy ngẫm cho kỹ, ý nghĩa của sự đình chỉ cũng giống như trong giới biệt giải thoát. Cho nên Bồ Tát Địa, cho rằng bảy loại giới biệt giải thoát là cùng một thể với Bồ tát luật nghi.

            Như phần sau có nói, trong giới Bồ tát, đối với bảy chi của thân và miệng như sát sanh, v.v..., cũng có sự khai duyên. Điều này tuy có khác với giới sát sanh, v.v..., của giới biệt giải thoát, nhưng vẫn không phải là sai lầm, nghĩa là trừ giới uống rượu ra, tất cả những chế tội (giá tội) khác, trong trường hợp bị bệnh hoạn, đều được khai duyên. Điều này không giống như giới pháp của tỳ kheo, bởi vì muốn đắc giới tỳ kheo thì phải thọ toàn phần, chứ không thể chỉ thọ có một phần giới mà thôi. Bồ tát luật nghi, trừ bảy chi giới của thân và miệng có sự khai duyên ra, các điều giới khác, cũng phải giống như giới biệt giải thoát, nghĩa là phải thà mất thân mạng, quyết giữ gìn không cho vi phạm. Đạo Cự Luận nói:
           
Bảy loại biệt giải thoát luật nghi,
            Thường cùng các giới khác tương ưng,
            Trong Bồ tát giới được khai duyên,
            Còn các giới khác không phải vậy.

            Do đây có thể nói rằng, nếu như trước tiên chưa thể tùy thuận hành tướng của bảy loại giới biệt giải thoát, thì không thể sanh khởi giới luật nghi của Bồ tát, điều này có nghĩa là nếu không có cộng tướng của bảy loại giới biệt giải thoát, không thể sanh khởi Bồ tát tịnh giới, chứ không có nghĩa là không có biệt tướng của bảy loại giới biệt giải thoát, không thể sanh khởi Bồ tát tịnh giới. Đạo Cự Luận Sớ nói: “Điều mà bài kệ muốn nói, là muốn chỉ rõ sự y chỉ thù thắng của tịnh giới.” Điều này trong quyển sớ của ngài Bồ Đề Hiền cũng đã nói rõ, ở đây chỉ góp nhặt ý nghĩa trong đó, và nói tóm lược lại mà thôi.

            Nghĩa lý này, từ xưa đã có hai lập luận khác nhau: (1) một bên cho rằng phải nương vào giới biệt giải thoát, như nói: “Nếu muốn sanh khởi và an trụ trong Bồ tát luật nghi, phải nên y chỉ giới biệt giải thoát,” (2) còn một bên cho rằng không nên nương vào giới biệt giải thoát, như nói: “Giới biệt giải thoát là của Thanh văn thừa, phải nghĩ rằng nó sẽ chướng ngại Bồ tát luật nghi.”
 
            Phái chủ trương nên nương vào giới biệt giải thoát nói: “Đã nói rằng có Bồ tát biệt giải thoát (nhiếp luật nghi), tức là phải có giới biệt giải thoát của bảy chúng của hai thừa Đại Tiểu. Ở đây dùng sự không tổn hại não loạn chúng sanh khác làm cộng tướng cho giới biệt giải thoát của hai Thừa, phải nên y chỉ vào cộng tướng này, không được tổn não đối với tất cả chúng sanh có ơn với chúng ta. Đến như sự khác biệt của giới biệt giải thoát của hai thừa Đại Tiểu, chẳng hạn như giới thể tương tục không đoạn, giữ ý cho người khác, sau khi phạm giới có thể sám hối thanh tịnh, thường ưa thích làm lợi ích chúng sanh, những điều này trong giới biệt giải thoát của Tiểu thừa không có. Đây là những điều biệt giải thoát giới của Đại thừa trái ngược với Tiểu thừa. Nếu như không phân biệt cộng tướng và bất cộng tướng, thì khi chư Bồ tát y vào giới biệt giải thoát của Tiểu thừa, sẽ đi ngược lại với tông chỉ Bồ tát của mình. Bồ tát thực sự dùng giới biệt giải thoát của Đại thừa làm học xứ chánh yếu, làm chỗ y chỉ, và điều này không có sự tương vi nào cả. Kinh Bảo Vân nói: “Biệt giải thoát luật nghi (của Tiểu thừa) có sự khác biệt với pháp học của Bồ tát.” Lại nữa, bảy chúng của Đại thừa, khi lãnh thọ, hoặc hộ trì giới luật, phải y như những điều giảng dạy trong các bộ Tỳ nại da (luật tạng) mà hành trì.

            Những người phản đối lập luận vừa nêu trên cho rằng: “Những điều vừa nêu lên hoàn toàn không hợp lý. Nếu như Bồ tát luật nghi phải y vào giới biệt giải thoát của bảy chúng mà phát khởi, thì hàng trời người (chưa thọ giới của bảy chúng) không thể sanh khởi Bồ tát luật nghi. Nếu như nhất định phải nương vào giới biệt giải thoát để an trụ, thì chúng sanh sau khi chết, luân chuyển trong sanh tử, tại mỗi nơi thọ sanh, đều không mất giới biệt giải thoát; nếu thế, trời, người, súc sanh, đều có giới tỳ kheo (một cách tự nhiên, không cần phải thọ giới). Do đây, sự sanh khởi của Bồ tát luật nghi, không cần phải nương vào giới biệt giải thoát. Mâu Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận cũng có nói: “Nếu cho rằng cận sự nam, cận sự nữ, cần sách nam, cần sách nữ, chánh học nữ, bí sô, bí sô ni, mỗi người phải nên trọn đời, tùy địa vị của mình an trụ trong giới biệt giải thoát của bảy chúng, thì mới có thể được thọ Bồ tát luật nghi, nếu không như vậy (thọ giới biệt giải thoát), không thể sanh khởi Bồ tát luật nghi, thì người nói điều này chưa thông đại ý nghĩa của kinh điển Đại thừa. Nếu cho rằng không có giới biệt giải thoát luật nghi thì không thể sinh khởi Bồ tát luật nghi, thì trong Bồ tát tạng và các luận sớ khác cũng phải nên nói rõ rằng giới biệt giải thoát là căn bổn của Bồ tát học xứ, và cũng phải nên nói rằng: Quyết định phải nương vào giới biệt giải thoát, giống như muốn đi trên con đường Bồ đề Đại thừa, quyết định phải nương vào hạnh Tam quy y.”

            Bởi vậy, khi Bồ Tát Địa nói Bồ tát luật nghi giới là giới biệt giải thoát của bảy chúng, nên biết điều này có hai phần: một là giới biệt giải thoát căn bản của bảy chúng, và hai là phần giới tướng của tính tội của giới biệt giải thoát chung với Bồ tát luật nghi, chứ không phải chỉ là giới biệt giải thoát của bảy chúng. Trong đây, giới tướng của tính tội của giới biệt giải thoát chung với Bồ tát luật nghiBồ tát luật nghi, được sanh khởi cùng lúc, bởi vì không có sự phân biệt giữa giới tướng của tính tội và năng y sở y của Bồ tát luật nghi.

            Như vậy, dù chưa thọ giới biệt giải thoát căn bản của bảy chúng, vẫn có thể sinh khởi (lãnh thọ) Bồ tát luật nghi. Thế nhưng, tốt nhất vẫn phải như pháp, nương vào giới biệt giải thoát, nghĩa là trước tiên phải thọ một loại giới biệt giải thoát tại gia hay xuất gia. Nếu không như thế tức là vượt thứ bậc mà Đức Phật đã giảng dạy. Ví như chưa thọ giới sa di mà lại thọ giới tỳ kheo, tuy vẫn có thể sanh khởi giới thể tỳ kheo, nhưng không nên làm như thế.

            Phái chủ trương không nương vào giới biệt giải thoát nói: “Nếu như không thể xa lìa ý thích tự lợi, thì không thể sanh khởi Bồ tát luật nghi. Điều này (giới biệt giải thoát) gọi là sự chướng ngại của Bồ tát luật nghi. Nếu trước kia đã đầy đủ Bồ tát luật nghi, mà sau đó lại sanh khởi ý thích tự lợi, phá hủy Bồ tát luật nghi, thì gọi là sự chướng ngại của việc an trụ trong Bồ tát luật nghi.”

            Điều mới vừa lập luận ở trên, đã phạm vào lỗi lầm là không phân biệt được sự khác biệt giữa “giới biệt giải thoát” và “ý thích Tiểu thừa (tự lợi)”. Cho nên muốn sinh khởi Bồ tát luật nghi, phải nên xa lìa ý thích Tiểu thừa, chứ không phải xa lìa giới biệt giải thoát. Nếu như đã đầy đủ Bồ tát luật nghi, mà lại còn sanh khởi ý thích Tiểu thừa, thì sẽ mất Bồ tát luật nghi, đến như giới biệt giải thoát thì không nên xa lìa, bởi vì giới biệt giải thoát là chung cho cả hai Thừa. Nếu nhân vì không thích “ý thích Tiểu thừa” mà xa lìa giới biệt giải thoát, thì đây là một điều phi lý. Nếu người nào trước đó đã đầy đủ giới biệt giải thoát, thì đây là người được trang bị thù thắng nhất để thọ giới Bồ tát, bởi vì họ đã đầy đủ chỗ y chỉ.

            Nếu như cho rằng thọ trì Bồ tát giới, là phải xả bỏ giới biệt giải thoát, thì đây là phá hủy những điều Đức Phật đã nói, cũng như đã làm cho những lúa mạ lợi ích chúng sanh bị một trận mưa đá tàn hủy, như vậy tức là không hiểu rõ yếu nghĩa trước sau mà kinh điển muốn nói. Phải nên xa lìa những chấp kiến điên đảo như vậy, ngăn chặn không cho chúng sanh khởi. Như Thánh Tam Giới Kinh nói: “Thường phải nên tùy thuận lời dạy về giới biệt giải thoát như đã nói ở phần trên. Này Hộ Quang! Trên thế gian, nếu có người nào đối với giới biệt giải thoát sanh khởi ý tưởng chống đối, tức là đã chống đối với pháp Thập lực, Tứ vô sở úy của chư Phật. Nếu như chống đối pháp Thập lực, Tứ vô sở úy của chư Phật, tức là đã chống đối chư Phật ở quá khứ, vị lai và hiện tại. Do đây trong tương lai sẽ nhận chịu vô lượng quả báo khổ não. Giả như tất cả chúng sanh trong một tam thiên đại thiên thế giới đều thọ lãnh sự khổ ở địa ngục, nếu so với sự khổ não mà người kia nhận chịu, trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, trăm ngàn câu chi nhẫn đến toán số ví dụ ô ba ni sát đàm phần, cũng không bằng một. Nếu muốn xa lìa sự khổ não, phải nên xa lìa những bí sô có loại ác kiến như vậy. Dù đã cách xa hàng ngàn do tuần cũng phải tránh xa, huống chi gần hơn khoảng này. Chỉ cần nghe tên của người ấy cũng phải lìa xa, huống chi mắt thấy tai nghe mà không chịu rời bỏ người ấy!”

            Lại nữa, Diệu Tý Bồ Tát Thỉnh Vấn Kinh nói:

Như tất cả lúa nương vào đất,
            Vì không tai ương, nên sinh trưởng,
            Như vậy pháp lành nương vào giới,
            Nước “bi” thấm nhuần làm sanh khởi,
            Đức Phật trong tạng Tỳ nại da,
            Giảng nói tịnh giới biệt giải thoát,
Tại gia Mật thừa, ngoài nghi tắc,
            Tất cả pháp khác, phải thọ trì.

Nghĩa là người tại gia trong Mật thừa, trừ những hành nghi, tác nghiệp, quỹ tắc, cùng những điều giới riêng biệt của các vị xuất gia ra, tất cả những điều giới mà Tỳ nại da đã đề cập đến, đều phải học tập, thọ trì, huống chi những người xuất gia trong Mật thừa, đầy đủ Bồ tát luật nghi, mà lại không học những điều giới ấy!

            Lại như ngài Già Thấp Di La Thiện Thệ Bảo Đảnh Cát Tường Trí Hữu Tôn Giả, cũng đã từng cực lực công kích những chấp kiến điên đảo hạ liệt này, để đưa về chánh nghĩa, như trong luận Bất Vi Việt Tịnh Giới Luật Nghi Bổn Thệ nói:

Như có người xuất gia,
Đã trì giới Hiển, Mật,
Sau đó vì ngu si,
Đối với điều đã thọ,
Giới học của Thanh văn,
Trong giới biệt giải thoát,
Chỗ nói về học xứ,
Phần lớn không giữ được,
Nên nói luật Thanh văn,
Khác với giới Bồ tát,
Bèn giữ giới Bồ tát,
Mà bỏ luật xuất gia.

Lại nói:

Người bỏ luật xuất gia,
            Đối với giới Hiển, Mật,
            Đều không thể thọ trì.

Lại nói:

            Bậc Thánh đủ thắng tuệ,
            Đại Bồ tát tỳ kheo,
            Phương tiện rất khéo léo,
            Trong mộng, không thất niệm.

            Trong các khế kinh cũng nói chi tiết về các Bồ tát tại gia, thị hiện làm chuyển luân vương, đã từng tu tập hạnh Bồ tát dài lâu, còn phải bỏ gia nghiệp, tìm cầu sự xuất gia thọ giới cụ túc. Cho nên, những hành giả Đại thừa, đối với tất cả giới biệt giải thoát, đặc biệt là đối với luật nghi của bậc xuất gia, phải nên yêu thích, lãnh thọ, giữ gìn.

F2. Nhiếp thiện pháp giới. Có ba phần:
G1. Lược nhiếp.
 
Các vị hành giả, sau khi thọ giới Bồ tát, tất cả công hạnh đều vì Đại Bồ đề, do thân và miệng tích tập các pháp lành, nói chung, đều gọi là giới nhiếp thiện pháp. Trong các luận sớ đều cho rằng, ở đây, câu “sau khi thọ giới Bồ tát”, phải nên sửa là “sau khi thọ giới luật nghi”. Điều này có ba ý nghĩa: (a) Thời gian: nghĩa là sau khi chánh thức thọ giới, như trong kinh có nói: “An trụ trong giới, tích tập các việc lành, nghĩa là an trụ trong giới mới có thể sanh khởi pháp lành, an trụ trong pháp lành, và tăng trưởng pháp lành. Đây là nhờ chánh thức thọ Bồ tát luật nghi, mới có thể tích tập tất cả pháp lành, bởi vậy, trước tiên phải kiên cố tịnh giới luật nghi. (b) Sở duyên: nghĩa là tất cả công hạnh đều vì Đại Bồ đề. Do tự mình thành thục tất cả Phật pháp. Ở đây, giới nhiếp thiện pháp, là sự tự thành thục, còn giới nhiêu ích hữu tình là thành thục người khác. Đây gọi là sở duyên khác biệt của hai phần giới này. (c) Tự tướng, hoặc còn gọi là tự tánh: nghĩa là do thân, miệng tích tập các nghiệp lành. Ở đây không nói đến ý nghiệp, như các sớ giải khác có nói: “Tu tập giới nhiếp thiện pháp, chỉ là tu tập giới của thân và miệng.” Thế nhưng, trong Quảng Sớ, thường thường nói đến nghiệp thiện của ý. Trong bộ sớ giải của ngài Đức Quang, cũng nói đến nghiệp thiện của ý, cho rằng trong nghiệp của thân và miệng, tự nhiên đã có lực lượng của ý nghiệp. Lối giải thích này rất hợp lý. Lại nữa, Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan ThíchĐạo Cự Luận Sớ, đều cho rằng trong Du Già Sư Địa Luận phải có chữ “ý”.

Như vậy, ba nghiệp thân miệng ý tạo tác khác nhau, hoặc là hai nghiệp thân miệng tạo tác, hoặc là cả ba tạo tác thiện nghiệp. Đây gọi là giới nhiếp thiện pháp.

G2. Nói chi tiết. Có tám phần:

(a) Sinh khởi ba tuệ: Bồ tát y chỉ, an trụ trong giới nhiếp luật nghi, phải nên diệt trừ tán loạn, nghe kinh học pháp, tìm cầu văn tuệ, tích tập tư lương nghe pháp, phát khởi tư tuệ, kế đó tu chỉ quán, tức là nhập vào tu tuệ. Lại phải ưa thích một mình ở nơi vắng vẻ, tinh tiến tu tập, xa lìa sự náo nhiệt, xa lìa sự bất thiện cùng các tầm tư ác. Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích đối với vấn đề này cũng có nói: “Phải nên ưa thích ở một mình nơi vắng vẻ.” Trong đây tu chỉ, tức là định học, còn phần văn tuệ, tư tuệ và tu quán, tức là tuệ học. Do tu tập các học xứ của giới, mà sanh khởi hai phần định tuệ này.

(b) Tích tập tư lương phúc điền: Nếu thấy bậc tôn trưởng, không nên có thái độ kiêu mạn, phải tỏ ra vui vẻ đón mừng, nói lời chào thưa, hỏi han lễ bái, kéo ghế mời ngồi; nếu như đang ngồi, phải lập tức đứng dậy một cách nhanh chóng, cung kính; thấy bậc tôn trưởng đến gần, chắp tay kính lễ, hoặc phục dịch, thừa sự một cách cung kính lễ độ; hoặc đối với người bệnh, khởi lòng thương xót, ân cần chăm sóc, cung cấp những gì họ đang cần. Như vậy, một cách tổng quát, có ba loại ruộng phước, nghĩa là (i) ruộng ân, (ii) ruộng kính, (iii) ruộng bi. Ruộng ân là chỉ cho cha mẹ, ruộng kính là chỉ cho bậc tôn trưởng, ruộng bi là chỉ cho người bệnh hoạn, nghèo khổ. Ba loại ruộng này là căn bổn để sanh khởi phúc điền cho hai hàng Bồ tát tại gia và xuất gia.

(c) Tùy hỷ công đức đối với những bậc có đức: Khi thấy có người diễn nói chánh pháp, hoặc tán thán Tam Bảo, hoặc nói những lời hay đẹp, phải nên mở lời ca tụng. Đối với những người đầy đủ công đức văn tuệ, v.v..., phải nên chân chánh khen ngợi, đối với việc phúc đức của tất cả hữu tình, phải nên dùng tâm vui thích thù thắng, nói lời tùy hỷ; hơn nữa, nếu biết rõ đối phương là người đáng được cúng dường, trong lòng nên vui mừng, xa lìa sự ganh ghét. Như vậy, tuy không phải chính mình làm, nhưng do sự tùy hỷ, mình được công đức cũng bằng với người đã làm những việc thiện đó. Phải nên tùy hỷ nghiệp lành của người khác, xem như tự mình làm, sanh lòng vui mừng vô hạn.

(d) An nhẫn: Nếu như có người đến gây sự tổn hại phiền não, phải nên suy ngẫm quán xét, xem đó là do nghiệp ác đời trước của mình chiêu cảm, đối với kẻ oán địch, sanh lòng thương xót, không ôm lòng oán hận, cũng không tìm cách trả thù.

(e) Hồi hướng phát nguyện: Vì muốn những pháp lành đã tạo tác không bị tổn hoại mất mát, hơn nữa, lại còn sanh khởi phước đức rộng lớn, phải nên đem tất cả những thiện nghiệp do thân miệng tạo tác trong đời quá khứ cũng như hiện tại hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Lại vì muốn thành thục vô lượng công đức, phải nên trong mỗi thời khắc phát khởi mười loại đại nguyện, như trong kinh Thập Địa, hoặc phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện đã dạy.

(f) Cúng dường Tam Bảo: Đối với Tam Bảo, dùng tất cả các loại tài vật, cùng sự hành trì, mà cúng dường thượng diệu rộng lớn.

(g) An trụ trong pháp không phóng dật: Thường thường nên dũng mãnh tinh tiến tu tập tất cả công hạnh của sáu pháp ba la mật.

(h) Tu tập các pháp lành trong tư lương đạo: Đối với các học xứ, phải nên chánh niệm, chánh tri, chánh thân, chánh ngữ; phải nên phòng thủ, giữ gìn các căn một cách miên mật, không cho chúng chạy theo các trần cảnh, dù cảnh ưa thích, hoặc cảnh không ưa thích, mà sanh khởi tham, sân. Muốn giữ gìn các căn, trước hết phải nên gìn giữ tâm ý của mình. Lại nữa, nếu như quá no hoặc quá đói, thì cũng không thể tinh tiến tu tập, cho nên phải ăn uống vừa đủ, không phạm vào hai điều trên; ăn những món thích hợp, và ăn vừa phải. Lại nữa, mỗi đêm chia làm ba phần, giữa đêm ngủ nghỉ, phần đầu đêm, cuối đêm và ban ngày thì phải nên, hoặc siêng năng đọc tụng kinh điển, hoặc tu tập pháp du già, lại nên gần gũi các bạn lành thù thắng, biết tu thiện xả ác, y chỉ các vị thiện tri thức dạy pháp. Hơn nữa, phải dùng tự tâm mình làm thiện tri thức cho chính mình. Đối với những điều giới đã phạm, phải nên quán xét sâu xa, biết rõ lỗi lầm cùng quả báo trong hiện tại cũng như trong vị lai; khéo léo đối trị, làm cho tất cả lỗi lầm cũng như quả báo đều được tiêu trừ. Hơn nữa, đối với điều giới đã phạm, nếu có nhân duyên thù thắng, gặp Phật, Bồ tát, liền phải đến trước các ngài phát lồ sám hối, đúng như pháp trừ diệt tội phạm giới. Nếu như không gặp, phải nên đối trước tượng của chư Phật Bồ tát, hoặc các vị đồng thọ giới Bồ tát, phát lộ sám hối, đúng như pháp trừ diệt tội phạm giới.

G3. Nhiếp nghĩa.

Các pháp như trên, nếu có thể dẫn nhiếp, hộ trì, tăng trưởng các thiện pháp giới, thì đều được gọi là Bồ tát nhiếp thiện pháp giới, nghĩa là có thể sanh trưởng ba tuệ. Hộ trì, nghĩa là sau khi sanh khởi, làm cho không bị tổn hoại, giả như tu pháp nhẫn nhục, nếu không trừ diệt sân hận, thì có thể bị sân hận làm tổn hoại tất cả pháp thiện đã tích tập được. Tăng trưởng, nghĩa là sau khi đã hộ trì, lại làm cho tăng trưởng rộng lớn, viên mãn, chẳng hạn như hồi hướng Vô thượng Bồ đề, phát nguyện rộng lớn như đã nói ở trên.

F3. Nhiêu ích hữu tình giới.

Thế nào là Bồ tát nhiêu ích hữu tình giới? Nên biết giới này, sơ lược có mười một tướng: (1) đối với người cần phải giúp đỡ; (2) đối với người ngu si; (3) đối với người ơn; (4) đối với người gặp sự sợ hãi; (5) đối với người sầu khổ; (6) đối với người nghèo túng; (7) đối với người cầu y chỉ; (8) đối với người cần phải tùy thuận ý của họ; (9) đối với người cần phải chỉ dẫn họ trực tiếp; (10) đối với người cần phải dùng nghịch duyên để chuyển đổi họ; (11) đối với người cần phải dùng thần thông để điều phục họ. Như vậy, tùy trường hợp mà làm lợi ích.

E3. Nhân duyên đầy đủ. Có ba loại:
F1. Nhân duyên đầy đủ của luật nghi giới.
 
Các vị Bồ tát an trụ trong giới luật nghi, làm thế nào để khéo hộ trì giới luật. Ở đây có mười điều:

G1. Không nuối tiếc dục lạc ở quá khứ.

Nghĩa là các vị Bồ tát xả bỏ những cảnh dục lạc thù thắng trong loài người của ngôi vị chuyển luân vương mà xuất gia, không hề nuối tiếc, như xả bỏ rác rưới. Ở đây chữ “dục”, có hai nghĩa, một là chỗ mong cầu ở bên ngoài, tức là những vật thọ dụng, hai là sự mong cầu ở bên trong, gọi là phiền não dục, tức là sự tham ái trong tâm. Sự tham ái này là căn bổn của tất cả sự mong cầu ao ước. “Không nuối tiếc”, nghĩa là đối với vật dục, tưởng nghĩ đến sự xả bỏ, như phế bỏ cỏ rác, không còn đoái tưởng đến. Bồ tát xả bỏ dục lạc, cũng giống như vậy. Đối với sự tham luyến, biết là không chân thực, bèn xả bỏ không một chút nuối tiếc. Lại nữa, Bồ tát đối với ái dục, quán tưởng là sự bất tịnh, xả bỏ sự thối bẩn đó không chút luyến tiếc. Đối với phiền não trong tâm, xem như vật thối bẩn, vứt đi không thèm nhìn. Đối với những tài sản tại gia đã xả bỏ để đi xuất gia, sau đó nếu còn khởi tâm tham tiếc, thì đối với giới luật nghi, sẽ không được thanh tịnh. Phải nên xả bỏ sự tham ái, tu hai pháp quán tưởng, như trong hai ví dụ ở phần trên, thường nhớ niệm điều này một cách vững chắc.

G2. Không ham thích dục lạc đời vị lai.

Tu tập phạm hạnh không phải để cầu dục lạc trong đời vị lai, dù là cảnh dục lạc ở cung thiên ma của cõi trời Tha hóa tự tại cũng không mong cầu, huống chi là những cảnh dục lạc khác.
           
Ở đây nói “không ham thích”, nghĩa là phải như thực quán niệm những dục lạc đó như rừng rậm đầy dẫy hổ, beo, cho nên không muốn vào.
           
Phần trên nói không nuối tiếc dục lạc ở quá khứ, là chỉ nói về cảnh dục lạc ở cõi người, chưa nói đến cảnh dục lạc cõi trời, vì giới luật nghi, chú trọng xuất gia, mà cõi trời thì không có người xuất gia. Còn ở đây nói không ham thích dục lạc đời vị lai, chỉ là nói đến dục lạc cõi trời, mà không nói đến dục lạc cõi người, vì sự hưởng dục ở cõi thiên ma là thù thắng nhất trong cõi dục. Trong đời vị lai còn không mong cầu sự hưởng dục ở cõi trời, huống hồ là cảnh dục lạc của cõi người. Nói tóm lại, luật nghi xuất gia, phải nên rất thanh tịnh, phải nên khéo hộ trì. Không vì cầu sự dục lạc ở đời sau mà tu phạm hạnh, chứ không phải chỉ là không nuối tiếc dục lạc trong quá khứ.

G3. Không đắm mê dục lạc ở hiện tại.

Đối với sự được cung kính lợi dưỡng của các bậc quốc vương, trưởng giả, còn không tham muốn, huống là tham đắm sự cung kính lợi dưỡng tầm thường của những hạng dân ty tiện. Nên dùng chánh tuệ quán xét những sự dục lạc đó như đồ ói mửa, không đáng ham thích.
           
Ở đây phải nên chú ý, nếu như nguyện cầu dục lạc đời sau mà tu phạm hạnh, thì chỉ gọi là thiện nguyện, chứ không được gọi là trì giới biệt giải thoát. Trong giới luật nghi của hàng tại gia, tuy không bắt buộc phải tuyệt đối xả bỏ những vật thọ dụng trong quá khứ, nhưng cũng không nên tham đắm cảnh dục lạc ở hiện tại, còn người xuất gia thì phải nên tuyệt đối xả bỏ tất cả sự tham đắm dục lạc. Nếu như không thể chuyển đổi tâm tham đắm của mình, như phần trước quán tưởng về sự luân hồi trong ba cõi, và quán tưởng về sự lỗi lầm của cõi dục, nên biết người đó không thể khéo léo giữ gìn tịnh giới.

G4. Ưa thích chỗ vắng vẻ.

Ưa thích ở một mình nơi vắng vẻ. Nếu như ở trong chúng, nên tìm cách an trụ trong hoàn cảnh không còn suy tư tìm cầu sự ham muốn. Không những chỉ sanh lòng ham thích thỏa mãn đối với giới luật nghi, mà còn phải nương vào tịnh giới để tinh tiến tu tập vô lượng đẳng trì của Bồ tát, làm cho đưa đến sự chứng đắc, tự tại. Nếu như đối với giới luật chỉ biết sinh tâm ưa thích, thỏa mãn, mà không chịu tầm cầu những công đức tối thắng, phải biết người đó không thể thành tựu viên mãn tịnh giới.

G5. Lời nói, tư tưởng thảy đều thanh tịnh.

Tuy ở trong chúng, không nên bàn luận những việc tạp nhiễm bất thiện. Tuy ở một mình chỗ vắng vẻ, cũng phải khéo phòng hộ, không nên khởi lên, dù một thoáng, những tầm tư ác, như tham dục, v.v..., hoặc có lúc mất chánh niệm, những tạp tưởng tạm thời hiện hành, phải nên tức khắc thấy rõ sự lỗi lầm, mạnh mẽ phát tâm hổ thẹn, sám hối. Nếu có thể thường thường tu tập như vậy, tuy đôi lúc tạm thời hiện khởi lời nói hoặc tư tưởng bất chánh, nhưng vẫn có thể nhanh chóng quay về an trụ trong chánh niệm, dần dần như thế, tuy không cần phải để tâm quán xét, vẫn có thể an trụ trong chánh niệm. Do nhân duyên này, có thể câu thúc, kiểm điểm; do vì quen sự kiểm thúc, dần dần có thể bỏ được những tập quán xấu ác trong quá khứ, nghĩa là chuyển được hai tâm: (1) ưa thích nói lời bất chánh, (2) suy tư bất chánh, làm cho chúng không còn hiện khởi.
           
Từ lúc bắt đầu tinh tiến tu tập, phải nên làm cho những tầm tư ác không hiện hành, hoặc giả đôi lúc hiện hành, lập tức có thể xả bỏ những niệm ác, thấy rõ lỗi lầm, mạnh mẽ hổ thẹn sám hối, niệm trước niệm sau, chuyển đổi ngược lại, mà an trụ trong tịnh giới. Đây gọi là thánh giáo vô thượng thi la thanh tịnh, ngăn cấm không cho sự nghịch lý hiện hành.

G6. Không tự khinh miệt mình.

Nếu như nghe những bậc Bồ tát đã nhập thánh vị (đăng địa), trong vô lượng kiếp, từ thuở lâu xa đã tu hành ba tụ tịnh giới một cách rộng lớn, vô lượng, không thể nghĩ bàn, chẳng hạn như xả bỏ thân mệnh để bố thí, v.v..., những điều mà người khác khó có thể làm được, thì cũng không nên tự ti; phải nên trừ diệt tâm khiếp nhược, sợ hãi, tự cho là mình không thể làm được, rồi tự khinh miệt chính mình. Làm thế nào để trừ diệt tâm tự ti này? Phải nên nghĩ như vầy: “Các vị Bồ tát đó, xưa kia cũng là người phàm, từ từ tu học, cho đến khi thành tựu viên mãn các học xứ của Bồ tát, chứ không phải tức khắc mà làm được. Mình cũng là người, từ từ tu học, tinh tiến không ngừng, quyết định cũng sẽ được thành tựu như các vị ấy.” Từ đây sanh khởi niềm vui thích thanh tịnh.
           
Nếu như nghe vô lượng học xứ như vậy, không thể tu tập, liền lập tức xả bỏ, hoặc tự nghĩ rằng: “Đây là chỗ các vị Bồ tát khác tu tập, không phải là chỗ của mình có thể làm được”, mà vội vàng xả bỏ, thì đây gọi là chướng ngại sự tăng trưởng của hạt giống Bồ tát. Phải nên như phần trên đã dạy, xả bỏ sự khiếp nhược, chân thực dũng mãnh, siêng cần tu tập; tuy tạm thời không thể làm được những việc khó làm, nhưng vẫn phải tâm niệm như sau: “Ta đối với pháp học, rốt ráo sẽ được thành tựu.” Phải thường sanh khởi sự vui thích, siêng năng tu hành, như vậy, sẽ tích tập pháp lành, tịnh trừ pháp ác, phát nguyện rộng lớn.

G7. Nhu hòa.

Thường thường quán xét lỗi lầm của mình, không nhìn lỗi lầm của người khác, mà cũng không làm cho người khác sanh lòng sầu khổ. Hỏi: “Nếu vậy, chẳng lẽ để cho người khác mặc tình phạm lỗi?” Trả lời: “Không phải như vậy. Nếu thấy người khác đang sống trong phiền não, nên sanh khởi lòng thương xót. Làm sao sanh khởi? Nên nghĩ rằng đây không phải là lỗi lầm của họ, mà là do sức mạnh của phiền não khống chế, làm cho họ không được tự tại. Đối với những chúng sanh hung ác phạm giới, không sanh lòng tổn hại, hoặc sanh lòng hờn giận đối với họ, mà phải sanh lòng rất thương xót, tìm cách làm lợi ích cho họ. Lại muốn làm thiện tri thức cho họ, thường muốn làm cho họ phát tâm Bồ đề, xa lìa phiền não, không để cho phiền não tăng trưởng, cho đến khi họ được thành Phật.”

G8. Nhẫn nhục.

Dù gặp người dùng tay, chân, gạch, ngói, dao, gậy, v.v..., đánh đập, làm tổn thương, cũng không bao giờ khởi lên một thoáng sân hận, thì lẽ nào đối với người khác lại có thể nói lời độc ác, nhục mạ, chửi rủa, hoặc là đánh đập, hành hung họ? Do đây mà ba nghiệp thân, miệng, ý, dần dần trở nên thanh tịnh. Trát Mục Tra Sớ nói: “Đối với phiền não lớn còn có thể nhẫn chịu, huống hồ đối với người khác mà làm điều tổn hại; dù trong một thoáng cũng không khởi lên những tâm ác như hủy nhục, quở trách, phẫn hận, báo thù, v.v...” Lại nữa, trong Luận Du Giaø cũng có nói: “Huống hồ là đem những việc ác như hủy nhục, sự khổ của bát phong mà làm tổn não chúng sanh.” Ở đây muốn nói rằng đối với người đánh đập, chửi rủa, mình còn không khởi tâm sân hận, báo thù, huống chi tự mình lại đánh đập, chửi rủa người khác!
           
Đoạn này muốn nói là khi bị người khác làm tổn não, mình phải an nhẫn không lay động, mà an trụ trong bốn pháp của sa môn.

G9. Không phóng dật.

Năm hạnh không phóng dật là tiền tế, hậu tế, trung tế, tiên thời, câu thời. Theo như thứ tự, trong thời quá khứ, tất cả những điều đã phạm, phải nên như pháp sám hối trừ diệt; trong thời vị lai, phải nên suy ngẫm quán xét lỗi lầm của sự phóng dật; trong thời hiện tại, không được quên chiùnh niệm, mạnh mẽ phát thệ nguyện: “Tôi sẽ hành động, an trụ đúng như giới pháp đã quy định, không để hủy phạm. Hành động theo quy tắc, an trụ trong chiùnh niệm, không khởi tâm hủy phạm giới pháp.” Do nương vào giới pháp, cho nên mỗi cử mỗi động đều gọi là hạnh không phóng dật thiết yếu nhất của học xứ biệt giải thoát.
           
Năm hạnh không phóng dật này, hạnh thứ bốn là căn bản. Nếu đủ bốn hạnh đầu, sẽ phát sanh hạnh không phóng dật thứ năm. Nếu chưa phát sanh hạnh thứ năm mà đã phát sanh sự phạm giới, thì phải theo thứ tự mà sám hối đúng pháp, trừ diệt tội chướng.

G10. Đầy đủ quỹ tắc tịnh mệnh.
           
Quỹ tắc, còn gọi là tịnh hạnh, là không nên vì mong được tiếng tăm mà khoe khoang công đức của mình. Không che giấu những lỗi lầm, đồng thời phát lộ những việc ác mà mình đã phạm. Lúc được cúng dường những vật tồi tàn, xấu xí, ít ỏi, phải biết ít muốn mà không sầu não; khi được cúng dường những vật hảo hạng, dư dật, phải nên biết đủ, đừng tham. Nhẫn chịu những sự khổ, như nóng, lạnh, đói, khát. Nếu cầu không được điều mình muốn, tâm không sầu buồn. Sáu căn lúc nào cũng phải nhu nhuyễn, an tĩnh, không lao xao. Không để bên ngoài ảnh hưởng, tâm lúc nào cũng an nhàn, tịch tĩnh, không bôn chôn, náo động, cử chỉ đường hoàng, suy nghĩ đúng lý, uy nghi tịch tĩnh.
           
Tịnh mệnh, là xa lìa năm pháp tà mệnh, như trá hiện dị tướng, v.v...
           
Tuy đã phòng hộ học xứ, nhưng trong sáu trường hợp sau đây vẫn chưa được gọi là khéo phòng hộ: (1) chỉ mới phòng hộ chút ít, liền cho là đã đầy đủ; (2) lời nói, hành động đều không thể thanh tịnh; (3) tự khinh miệt chính mình; (4) không thể thống lãnh đệ tử; (5) khi vi phạm giới luật, không thể sám hối trừ diệt; (6) nghi tắc và tịnh mệnh không được thanh tịnh. Trong điều (1) lại có hai phần: (a) tuy phòng hộ hai nghiệp thân và miệng, nhưng tâm vẫn mong cầu dục lạc của ba cõi; (b) tuy có thể phòng hộ ý nghiệp, nhưng vẫn không thích nương vào giới luật để tu thiền định. Đức Quang Luận Sư nói: “Không thể thống lãnh đệ tử, nghĩa là không thể nhiếp thọ, nhẫn chịu những đệ tử nghiêm trì tịnh giới .

F2. Nhân duyên đầy đủ của nhiếp thiện pháp giới.

Ở đây có hai loại đầy đủ năm phẩm.

G1. Tuần tự của năm ba la mật.

Thứ nhất, sự tuần tự tu tập năm ba la mật, theo như thứ tự, phải lìa xa năm sự vi nghịch làm chướng ngại năm độ là: (i) sanh khởi tâm bỏn sẻn, tham lam, dù là rất nhẹ, đối với thân mệnh, tài sản; (ii) sanh khởi tất cả nhân duyên phạm giới, căn bổn phiền não, cùng các tùy phiền não, như phẫn, hận, v.v...; (iii) sanh khởi những tâm ác như giận dữ, mưu hại, oán trách, hận thù; (iv) lười biếng, nhút nhát, ưa nằm, ưa dựa, không cung kính, không chịu xúc tiến các việc làm thiện; (v) khởi tâm tham luyến thiền định, hoặc khởi những phiền não như hôn trầm, trạo cử, v.v... Nói tóm lại, nếu như khởi lên những sự vi nghịch đối với giới luật, phải lập tức tinh tiến đối trị, hoặc ngăn chặn không cho phát sanh, quyết không để thế lực của phiền não lớn mạnh, mà bị nó lay chuyển.

G2. Tầng bậc của Tuệ ba la mật.

Kế đến là nói về tầng bậc của Tuệ ba la mật, nghĩa là có thể biết rõ như thực những thắng lợi lành, có thể biết rõ như thực những nhân duyên lành, có thể biết rõ như thực sự đảo và vô đảo của quả lành, lại có thể biết rõ như thực những sự chướng ngại nhiếp thiện pháp, rời xa năm sự chướng ngại “vô tri” như trên.
           
“Thắng lợi”, tức là đạt được ba loại quả báo - người, trời và Bồ đề. “Nhân duyên”, là nêu rõ nhân duyên của quả lành thù thắng cao tuyệt, chẳng hạn như là nương vào bạn lành, nghe hiểu chiùnh pháp, suy ngẫm tu tập, v.v... “Đảo và vô đảo”, nghĩa là đối với những quả lành mong cầu, nếu coi đó như là “thường, lạc, ngã, tịnh”, đây gọi là đảo, còn nếu quán sát ngược lại thì gọi là vô đảo. Ở đây muốn nói là các Bồ tát đắc được quả lành, không còn cái nhìn điên đảo đối với sự không điên đảo.
           
Như vậy, biết rõ sự thắng lợi của quả lành của sáu pháp ba la mật và nhân lành của chúng, biết rõ cách xa lìa sự vi nghịch làm chướng ngại sáu độ, tích tập tất cả những căn lành của sáu độ, tức là có thể tích tập các pháp lành một cách nhanh chóng, bởi vì tất cả thiện phẩm thế gian xuất thế gian đều được hàm nhiếp trong sáu độ. Nếu có thể xa lìa các pháp vi nghịch của sáu độ, thì có thể dễ dàng tích tập các pháp lành. Các tầng bậc như vậy, có thể thành tựu mau chóng các nhân duyên của sáu ba la mật.

 

Chú thích:


Đẳng trì (một tên gọi khác của định): là trạng thái của tâm an trụ trong một chỗ, bình đẳng duy trì.

Tầm tư: trước kia gọi là giác quán, nay gọi là tầm tư, là hai loại tâm sở trong Bất định pháp. Tầm là tìm cầu, tư là chính chắn suy xét. (Xem Phật Học Phổ Thông, khóa thứ IX, Thích Thiện Hoa.)

Bát phong: lợi (lợi ích), suy (suy tổn), hủy (chê bai), dự (gián tiếp khen ngợi), xưng (trực tiếp ca tụng), ki (gièm pha), khổ, lạc (vui).

Tiền tế là quá khứ, hậu tế là vị lai, trung tế là hiện tại, tiên thời là trước đó, và câu thời là cùng lúc.

Câu này, nguyên văn chữ Hán là “Bất năng nhiếp ngự đồ chúng giả, vị bất năng nhiếp thọ kham nhẫn tịnh giới đồ chúng cố.”

Trở Về Mục Lục

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006
Last Updated 10/25/2010