Phần 1
A1. Phần tựa.
Kính lạy Đồng Tử Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát
(1) Tán thán Phật Thích Ca.
Kính lạy Bậc đem lòng Đại bi,
Bao kiếp tu những công hạnh khó,
Nay chứng quả Phật, diễn pháp mầu,
Lay tỉnh chúng sanh đang mê muội.
(2) Tán thán Phật Di Lặc.
Lạy Bậc được Đấng Đại Giác Tôn,
Thọ ký kế vị ngôi Pháp Vương,
Tự tại trên đời, Vô Năng Thắng ,
Dùng Thanh Tịnh Tạng hộ hữu tình.
(3) Tán thán ngài Vô Trước.
Kính lạy dưới chân như đóa sen,
Của bậc thánh giả, ngài Vô Trước,
Ngài đem đến mọi sự cát tường,
Con nay cung kính xin thờ phụng.
(4) Tán thán Bồ tát địa.
Ngài Vô Năng Thắng diễn diệu pháp,
Đối với hạnh Bồ tát cần học,
Chỉ dạy pháp tu hợp Chánh lý,
Người thích Thượng thừa nên thọ trì.
Những người tự xưng là Đại thừa,
Nhưng đối với giới luật Bồ tát,
Mù không trí tuệ, không phân biệt,
Hoặc chỉ tụng niệm theo mặt chữ,
Đối pháp Thượng thừa cần tu tập,
Cùng đạo Đệ nhất của Bồ tát,
Không thể quyết tâm cầu Thánh pháp,
Phóng dật, xả bỏ nghĩa chân thực,
Bọn họ, tâm mê muội Chánh đạo,
Giống như nài voi không móc sắt.
Những Bậc có căn tính Thượng thừa,
Đối với pháp này, rất thích nghe.
(5) Nhân duyên ngài Vô Trước soạn Bồ tát địa.
Phần Ký biệt trong quyển Diệu Cát Tường Bổn Tục nói:
Có bậc Bí sô tên Vô Trước,
Thấu rõ chân nghĩa của luận tạng,
Hay khéo chọn lựa các kinh điển,
Tất cả liễu nghĩa, không liễu nghĩa,
Lại hay khai triển trí thế gian,
Khéo phân biệt luận tạng bổn nghĩa,
Ngài là bậc viên chứng “trì minh” ,
Là sứ giả của Đức Điều Ngự,
Bậc nói lời thật đủ uy lực,
Khéo hay sinh khởi tuệ thù thắng,
Khiến Thánh Giáo trụ thế lâu dài,
Chọn nghĩa chân thực của kinh điển,
Ngài thọ một trăm năm mươi tuổi,
Sau khi mất, hiện thân cõi Phật,
Tuy ở trong sinh tử luân hồi,
Vĩnh viễn hưởng mùi vị an lạc,
Trong đời vị lai sẽ chứng được,
Vô thượng Bồ đề tối cứu cánh.
Bồ tát Vô Trước tu tập pháp môn thù thắng vi diệu, phát nguyện rộng lớn, đã trong nhiều đời, tích tập vô lượng tư lương khó nghĩ bàn, tinh tiến thành khẩn tu tập, chứng được Pháp quang định, có thể làm cho mọi người đạt được sự giải thoát cứu cánh, giống như vượt biển lớn, đều được đến bờ bên kia, đầy đủ năng lực khéo léo lựa chọn các pháp mà các chúng sanh khác khó thể lường được. Ngài ở nơi Bồ tát Di Lặc, rộng nghe vô lượng Phật pháp, đặc biệt đối với lý thú hành quả rộng lớn của Thượng thừa, ngài đã nghe và lãnh thọ một cách viên mãn. Sau đó ngài đã sưu tập những nghĩa lý thiết yếu, biên soạn phần Bồ Tát Địa của bộ Du Già Sư Địa Luận.
(6) Nhân duyên luận chủ Tsong Kha Pa tạo luận này.
Nếu như có người, đối với pháp Thượng thừa, tu tập ít ỏi, sức hiểu biết yếu ớt, đối với các học xứ của Bồ tát, không thể quán xét, thông đạt, vì muốn những người kém cỏi này có thể hiểu rõ một cách dễ dàng, cho nên tôi (Tsong Kha Pa) xin giải thích sơ lược ý nghĩa phẩm Giới Ba La Mật của phần Bồ Tát Địa này.
(7) Tổng luận trì giới.
Hành giả Bồ tát dùng chỗ nào làm nơi y chỉ? Phải y như Thánh giáo đã dạy. Trước tiên phải phát khởi tâm Bồ đề thù thắng, kế đó, đối với những điều Bồ tát phát nguyện tu học, phải dùng sự trì giới làm công hạnh thiết yếu, vì nếu như không thể tu tập học xứ của Bồ tát, thì không thể nào chứng đắc Vô thượng Bồ đề, bởi thế, trì giới là con đường quan yếu nhất trong tất cả công hạnh của Bồ tát ba đời. Trong phần Bồ Tát Địa nói rằng ba tụ giới này (luật nghi, nhiếp thiện pháp, nhiếp hữu tình) là những điều mà tất cả Bồ tát quá khứ cầu Đại Bồ đề đã học, tất cả Bồ tát vị lai sẽ học, và tất cả Bồ tát hiện tại ở vô lượng vô biên mười phương thế giới đang học. Lại nữa, Giới Sơù nói: “Phàm tất cả hành giả đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, bước vào ngưỡng cửa Đại thừa, ắt phải an trụ trong tịnh giới của Bồ tát.”
Nếu đối với những học xứ của Bồ tát đã được giảng nói trong Giới Ba La Mật không chịu tu tập, hoặc không cung kính, tin tưởng, mà tự cho mình là hành giả Đại thừa, thì nên biết đây chỉ là Bồ tát tương tự, chứ không phải Bồ tát chân thực.
Bởi thế, phát tâm Bồ đề, mà đối với học xứ của Bồ tát, không chịu tu tập với lòng tin tưởng sâu xa, thì không thể nào chứng đắc Vô thượng Bồ đề. Những vị hành giả cầu Bồ đề, phải nên quán xét học xứ của Bồ tát, xem đó là con đường chính yếu của mình, theo đó mà siêng năng tu học. Thánh Tam Giới Kinh nói: “Này Hộ Quang! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào tu học Bồ tát thừa, khi nghe được Bồ tát học xứ, mà lại không thể sinh lòng tin tưởng chân thực sâu xa, nên biết người đó rốt ráo không thể chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Vì sao? Do sự tu học mà chứng được Bồ đề, chẳng phải không tu học mà có thể chứng được. Nếu như không tu học mà có thể chứng được, thì những loài như mèo, thỏ, v.v..., cũng phải chứng được Vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì những người không tu chánh hạnh, ắt không thể chứng được quả Vô thượng. Lại nữa, nếu không tu chánh hạnh mà chứng được Vô thượng Bồ đề, thì lời nói, âm thanh cũng chứng được Vô thượng Bồ đề, giống như chỉ cần nói lời như sau: “Tôi sẽ thành Phật! Tôi sẽ thành Phật!”, cũng sẽ làm cho vô lượng chúng sanh thành Phật”.
(8) Hai Thừa Hiển, Mật đều phải trì giới.
Nếu như cho rằng chỉ có hành giả Hiển giáo mới cần tu học, hành trì tịnh giới của Bồ tát, còn hành giả Mật giáo thì không cần phải tu học, quan niệm như thế gọi là đại tà kiến. Những bộ kinh Mật giáo như Tam Bồ Đề, Kim Cương Không Hành, Kim Cương Đảnh đều nói như sau:
Con nay đúng lý xin phát khởi,
Tâm Bồ đề tối thắng vô thượng,
Đối với tất cả giới luật nghi,
Cùng giới nhiếp thiện pháp vi diệu,
Giới nhiêu ích hữu tình thù thắng,
Mỗi giới đều kiên quyết thọ trì.
Nghĩa là, nếu muốn thọ trì giới luật của Kim cương thừa (Mật thừa), trước tiên cần phải phát nguyện học ba tụ giới này. Hơn nữa, đối với năm Phật bộ , phải nên cung kính thọ trì, y cứ vào nghi quỹ Mạn đà la, và cũng phải hộ trì hai loại giới “cộng” và “bất cộng”. Cộng giới, tức là giới pháp của Bồ tát. Bởi thế, hành giả Bồ tát phát tâm hành trì, đối với ba tụ giới, hoặc sáu Ba la mật, đều phải nên tu học. Ngoài ba tụ giới và sáu Ba la mật, không có con đường Đại thừa Ba la mật nào khác. Vì thế, việc tu học ba tụ giới và sáu Ba la mật, là điều cần thiết của bốn Tục bộ trong Mật thừa, bất luận là bộ nào.
Lại nữa, (1) phát tâm Bồ đề, và (2) sáu Ba la mật, là con đường chung cho cả Hiển giáo và Mật giáo, cho nên hành giả Mật giáo, trong tất cả mọi thời, đều không nên xả bỏ hai điều này. Diệu Cát Tường Bổn Tục nói: “Hành giả Mật giáo, phải nên đầy đủ viên mãn ba pháp. Ba pháp đó là gì? Một là không xả bỏ chúng sanh; hai là hộ trì Bồ tát tịnh giới luật nghi; ba là không tự mình bỏ mất những Mật pháp hiện đang tu tập.” Kinh Kim Cương Đảnh nói:
Đối với sáu hạnh Ba la mật,
Phải theo thứ tự mà tu học,
Có thể làm lợi ích hữu tình,
Đây gọi là hành Bồ tát hạnh.
Kinh Kim Cương Mạn, phẩm thứ mười hai cũng nói:
Con phát tâm Bồ đề thù thắng,
Rộng nhiếp tất cả kẻ đáng thương,
Nương vào Thắng Bồ Đề tu tập,
Vì lợi chúng sanh, nguyện thành Phật.
Hiển giáo và Mật giáo, đối với các học xứ của Bồ tát, sự khai, giá tuy có khác biệt, song bản thể của giới chỉ là một. Phải nên biết rằng, Hiển giáo và Mật giáo, bất luận tu theo pháp nào, đều phải nghiêm trì giới luật.
A2. Chánh thức giải thích giới phẩm.
Giải thích giới phẩm, sơ lược phân làm hai phần: 1. Tổng nhiếp, 2. Phân thích.
B1. Tổng nhiếp.
Thế nào là tất cả giới của Bồ tát? Nói sơ lược về hành tướng thì có chín loại giới:
(1) Tự tính, (2) nhất thiết, (3) nan,
(4) Nhất thiết môn, (5) thiện sĩ,
(6) Nhất thiết chủng, (7) toại cầu,
(8) Tam thế lạc, (9) thanh tịnh,
Chín loại hành tướng này,
Nói sơ lược về giới.
Trong đây, (1) tự tính giới: là tổng tướng của giới; (2) nhất thiết giới: là sự phân biệt một cách rộng rãi thể tướng của giới; (3) nan hành giới: giới này rất khó hành trì, không phải những người tầm thường có thể hành trì được; (4) nhất thiết môn giới: giới này có thể phân biệt tất cả công hạnh; (5) thiện sĩ giới: giới này có thể làm chỗ y chỉ thù thắng cho những bậc thiện sĩ; (6) nhất thiết chủng giới: giới này có thể phân biệt rộng rãi về hành tướng, chủng loại của giới; (7) toại cầu giới: như trong Đại Sớ có nói: “Lìa xa sự khổ não của người khác, do vì cảnh và hành có sự thay đổi, khác biệt.” (8) tam thế lạc giới, và (9) thanh tịnh giới, đều là nói về quả báo thù thắng của giới, do phương tiện xả, đắc, mà có sự khác biệt.
B2. Phân thích.
Có sáu phần: (1) nói sơ lược về tự tính giới; (2) nói tường tận về tất cả giới; (3) lập luận về sự sai biệt; (4) nói về sự lợi ích thù thắng của giới; (5) nhiếp tập giới tướng; (6) nói về hành nghiệp của giới.
C1. Nói sơ lược về tự tính giới.
Có hai phần: (1) giới tính, (2) sự ích lợi thù thắng.
D1. Giới tính.
Trong phần giới tính, có bốn công đức, nghĩa là công đức của tự tính giới tổng cộng có bốn loại: (i) công đức của sự chánh thức từ người khác thọ giới; (ii) công đức của sự vui thích thanh tịnh; (iii) công đức của sự sám hối thanh tịnh những sự phạm giới; (iv) công đức của sự cung kính sâu xa, chuyên tâm tưởng niệm, hành trì giới pháp không có sự vi phạm.
Bốn công đức, có nghĩa là: (i) Do sự chánh thức từ người khác thọ giới, nếu có nhân duyên vi phạm giới pháp, biết rõ sẽ bị người khác quở trách, hủy báng sự bất chánh, vì vậy đối với những hành động xấu, sanh tâm hổ thẹn; (ii) vì đối với giới pháp có niềm tin vui thích thanh tịnh, cho nên, nếu có nhân duyên vi phạm, liền tự quán xét chính mình, e sợ sự phạm giới sẽ lôi kéo, phá hoại những công phu tu hành, liền khởi tâm hổ thẹn đối với việc ác. Do vì hai việc: (iii) sau khi phạm giới, sám hối thanh tịnh, và (iv) không hề hủy phạm giới pháp, cho nên xa lìa pháp ác. Do vì Bồ tát chánh thức từ người khác thọ giới, nương vào niềm vui thích thanh tịnh, cho nên sinh tâm hổ thẹn, và do tâm hổ thẹn, cho nên không phạm giới; hoặc giả, nếu lỡ phạm thì liền sám hối thanh tịnh, nhờ đó có thể khéo phòng hộ những điều giới đã thọ. Do vì cẩn thận phòng hộ, nên không bị phạm giới, xa lìa pháp ác.
Bởi thế, có thể nói rằng, những người thọ giới phải nên đúng lý, dùng trí lực quán xét tự tâm; do thường thường quán xét, cho nên xa lìa những sự hổ thẹn, hối hận; cho đến khi không còn phạm vào các điều giới, dù nặng hay nhẹ, do đây mà có thể sanh khởi tâm thanh tịnh thù thắng.
Nhân đây, từ lúc bắt đầu thọ giới, không còn bị nhiễm ô bởi sự lỗi lầm, giả như, đôi lúc bị mất chánh niệm, bị nhiễm ô bởi sự lỗi lầm, thì vẫn có thể ngay lập tức, không một chút do dự, khiển trừ những lỗi lầm đó không còn mảy may, bằng cách phát lộ sám hối trừ diệt tội phạm giới, làm cho trở lại thanh tịnh. Sau khi sám hối xong, phải nên khởi tâm cực kỳ hổ thẹn; sau đó phải nên từ một vị thiện tri thức đầy đủ đức hạnh uy nghi, cầu thọ lại tịnh giới. Sự mong muốn thọ giới, không phải là theo ý người khác, mà phải do chính người thọ giới suy ngẫm, quyết định; cũng không phải vâng theo mệnh lệnh của người khác, mà là y theo sự vui thích vi diệu thù thắng của chính mình. Đối với hai nhân duyên này, phải khéo chuyên tâm chú ý.
Bốn công đức này, những bộ sớ giải khác, phần nhiều đều cho rằng công đức thứ nhất là do sự thọ giới, còn ba công đức sau là do sự hộ giới; thế nhưng, luận Du Giaø thì cho rằng hai công đức đầu là nhân của sự hộ giới. Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng nói:
Dùng niềm vui thanh tịnh thù thắng,
Từ vị thầy giới đức thanh tịnh,
Trí lực thù thắng, mà thọ giới.
Nghĩa là hai công đức đầu thuộc về sự thọ giới, còn hai công đức sau thuộc về sự hộ giới.
Lại nữa, các Bồ tát, lúc đang cầu thọ giới, nếu như không gặp được vị thầy đầy đủ giới đức, thì có thể quán tưởng chư Phật, Bồ tát, hiện đến trước mặt, truyền thọ giới pháp cho mình. Thế nhưng, từ người khác thọ giới vẫn là điều chính yếu. Nếu như gặp được bậc thiện tri thức, thì phải đến chỗ của ngài, rập đầu cầu thỉnh vị ấy truyền giới cho mình. Sau khi đã được truyền thọ giới pháp, phải nên cung kính vui mừng, hộ trì những điều giới đã thọ, thì có thể nhanh chóng phát sanh giới hạnh thanh tịnh. Học Tập Luận nói: “Trì giới, nghĩa là hành giả đối với học xứ của Bồ tát, phải nên từ bậc có giới đức lãnh thọ hành trì, chân thực tu tập tịnh giới của Bồ tát. Những hành giả như thế, nếu vi phạm những điều giới đã học, phải nên khởi tâm hổ thẹn, sợ rằng đã khi dối bậc Thượng sư cho nên sinh lòng hổ thẹn. Do lòng hổ thẹn đó, cho nên không cần phải nhờ vào sự khích lệ của người khác, mà tự đối với giới pháp sinh tâm vui mừng cung kính. Vì vậy, tất cả Bồ tát, nếu muốn thành tựu các học xứ này, phải nên đối trước chư Phật mà chánh thức thọ học!”
Nói về hành tướng nhân quả của công đức. Phải nên biết rằng hai công đức đầu có thể dẫn phát hai công đức sau. Hai công đức đầu là nhân, hai công đức sau là quả. Hành tướng của sự dẫn phát đã được trình bày ở phần trên.
Trong bốn loại công đức trên, hai loại có thể làm giới hạnh thanh tịnh, tức là: (1) hoàn toàn không vi phạm, (2) sau khi phạm giới, sám hối khôi phục sự thanh tịnh.
Nên biết, do ba điều: (1) sự chánh thức thọ giới từ người khác, (2) sự vui thích thanh tịnh, (3) cung kính sâu xa, chuyên tâm tưởng niệm, không có sự vi phạm, có thể làm cho hành giả sẽ không hủy phạm những điều giới thanh tịnh đã thọ. Lại nữa, (4) sau khi phạm giới, sám hối thanh tịnh, có thể làm cho người phạm giới trở lại thanh tịnh, lại làm cho khôi phục giới thể. Do hai loại này, nên nói là có bốn.
Trong các bộ sớ giải khác, tập hợp bốn loại công đức mà giảng thành bốn điều: (1) Công đức đầu tiên là sự thọ giới, ba công đức sau là sự hộ trì giới. (2) Một công đức thuộc về sự vui thích, ba công đức thuộc về sự hành trì. (3) Sự vui thích chánh thức thọ giới, và ba tự tính giới. Chánh thức thọ giới lại có ba điều: (i) tự mình trịnh trọng thỉnh cầu mà thọ giới; (ii) hoặc vì muốn làm phước điền cho người khác mà thọ giới; (iii) hoặc vì muốn được tự tại, xa lìa sự tổn não chúng sanh mà thọ giới. Tự tính giới cũng có ba điều: (i) giới pháp đã thọ, (ii) sau khi thọ sám hối thanh tịnh; (iii) phòng hộ giới pháp. (4) Hai nhân và hai quả của tịnh giới.
D2. Sự lợi ích thù thắng.
Có bốn loại: (i) diệu thiện tịnh giới, (ii) vô lượng tịnh giới, (iii) nhiêu ích nhất thiết hữu tình giới, (iv) năng hoạch đại quả thắng lợi giới.
(i) Diệu thiện tịnh giới: sau khi từ người khác chánh thức lãnh thọ giới pháp tự tính đầy đủ bốn công đức như thế xong, tùy thuận giới luật mà tu học, thì có thể phát sanh nhiều sự lợi ích. Một là tự lợi, nghĩa là các vị Thanh văn, lúc tu hạnh tự lợi, biết rõ tứ đế, lìa xa các phiền não và những sự khổ khổ, ít làm, ít việc, chỉ lo tu tập, tự thân tịch tĩnh, hoặc tự điều phục. Còn các vị Bồ tát, lúc tu hạnh tự lợi, liền đoạn trừ hai chấp (ngã chấp, pháp chấp), mà chứng hai trí (thực trí, quyền trí). Hai là lợi tha, nghĩa là lúc mới phát tâm, liền muốn làm lợi ích rộng lớn cho hai loại hữu tình hữu tính và hữu tình vô tính. Làm thế nào để lợi ích hữu tình vô tính? Nghĩa là hiện tiền, đối với việc cứu độ, phát tâm làm cho chúng sinh xa lìa nẻo ác: chúng sanh chưa sanh khởi việc ác, làm cho không sanh khởi; đã sanh khởi việc ác, làm cho xả bỏ, đây gọi là hạnh làm lợi ích chúng sanh của Bồ tát; hơn nữa, lại dẫn đạo chúng sanh tu tập pháp lành: chúng sanh chưa sanh khởi pháp lành, làm cho sanh khởi; đã sanh khởi pháp lành, làm cho tăng trưởng, đây gọi là hạnh làm an lạc cho chúng sanh của Bồ tát. Lại nữa, đối với các chúng sanh vô tính, tâm còn nhiều sân hận, không có duyên lành đối với Phật pháp, lạc trong đường tà, rơi vào nẻo ác, Bồ tát vì những chúng sanh này mà làm người hướng dẫn, lãnh đạo, lợi ích an lạc, vui thích cứu độ không hề xả bỏ chúng sanh; thường đợi những cơ hội để làm lợi ích cho họ. Đây gọi là hạnh của Bồ tát thương xót chúng sanh. Làm thế nào để lợi ích hữu tình hữu tính? Nghĩa là có thể dẫn dắt các chúng sanh hữu tính này tu tập, đạt đến các thánh quả, đây gọi là hạnh của Bồ tát lợi ích tất cả trời người. Làm thế nào để lợi ích? Nghĩa là dùng phương tiện dẫn dắt họ từ hai giai bậc tư lương và gia hạnh, đạt đến thánh quả. Lại có thể làm cho họ hiện đời được an lạc, thân tâm thanh thoát, hân thưởng niềm vui của sự giải thoát. Đây gọi là hạnh an lạc của Bồ tát. Do những công hạnh này mà hành giả đối với giới pháp Bồ tát thanh tịnh vi diệu không còn lầm lẫn nghi hoặc. Trong các bộ sớ giải khác có nói nhiều về những sự lợi ích của giới pháp. Ở đây không thể trình bày hết được.
(ii) Vô lượng tịnh giới: nhiếp thọ vô lượng pháp học (học xứ) của Bồ tát.
(iii) Nhiêu ích chư hữu tình giới: trong hai giai đoạn tu hành (tu đạo) và chứng đắc (cứu cánh đạo), đều thường làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
(iv) Năng hoạch đại quả thắng lợi giới: trong lúc đang ở giai vị Bồ tát thì tự mình cầu chứng đắc quả vị Bồ đề rộng lớn viên mãn, đến lúc đạt được quả Phật, thì có thể đem quả vị này bố thí cho chúng sanh được sự thắng lợi to lớn. Thế nào là sự thắng lợi to lớn? Các bậc Thanh văn phải đầy đủ ba học (giới định tuệ) thì mới được sự hoàn thiện trong ba thời, còn Bồ tát chỉ cần thọ trì giới pháp thì đã được sự hoàn thiện trong ba thời, nghĩa là lúc mới phát tâm, nói rộng về việc lợi ích tự tha, đây gọi là sơ thiện, kế đó thực sự làm lợi ích tất cả chúng sanh, đây gọi là trung thiện, cuối cùng chứng được quả Phật, đây gọi là hậu thiện.
Vô Năng Thắng: Ajita, tên của ngài Di Lặc (Matreya)
Trì minh: tức là đà la ni. Chứng trì minh tức là chứng đà la ni.
Năm Phật bộ: tức là Phật bộ, Kim cang bộ, Liên hoa bộ, Bảo bộ và Yết ma bộ, mỗi bộ đều lấy một vị Phật làm bộ chủ; chư Phật tương ứng với năm bộ là Tỳ Lô Giá Na, A Súc, A Di Đà, Bảo Sanh và Bất Không Thành Tựu, vì thế gọi là năm Phật bộ.
Bốn Tục bộ của Mật giáo, tức là Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ và Vô thượng du già bộ.
|