Nhờ duyên may mắn, Ban Điều Hành diễn đàn đã nhận được quyển sách nhỏ viết về Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương của Đạo Phật do một hội viên thân hữu gửi tặng. Bộ sách này được nhà nghiên cứu Lê Viết Thụ dịch nguyên văn từ tiếng Hán gửi tặng nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông tại Hà Nội. Nhân dịp này xin đưa lên diễn đàn để mọi người tham khảo.
Kim Sư Tử Chương là một tác phẩm cuối đời của Pháp Tạng, tư tưởng trong tác phẩm cực kỳ tinh túy thành thục, bản luận văn này lời giản dị, ý sáng sủa, được đánh giá là vừa bao quát toàn diện lại tập trung phản ánh được thể hệ tư tưởng của Hoa Nghiêm Tông. Đồng thời tác phẩm này cũng được đánh giá là một trong 3 tác phẩm ( Kim Cương Kinh, Tâm Kinh, Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương ) có địa vị trọng yếu trong điển tích Phật giáo, lý luận triết học sâu sắc, tinh diệu của các bộ kinh giúp nâng cao trình độ tư duy của người đọc.
Xin trân trọng được giới thiệu với các bạn hội viên và bạn đọc của diễn đàn.

 

Lời giới thiệu
Bộ "Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương"

́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́́


Điển tích Phật giáo chia thành ba loại: Kinh, Luật, Luận đặt tên là Tam tạng.

Gọi là "Kinh" là để chỉ loại ý nghĩa Phật giáo được Phật Thích ca huyên giảng, các đệ tử nhớ ghi lại.

Gọi là "Luật" là chỉ những quy định của Phật Thích Ca có quan hệ tới giới luật, được các đệ t? nhớ, ghi lại.

Gọi là "Luận" là những biên soạn về giáo lý Phật giáo của các cao tăng đời sau.

"Kim Cương Kinh" và "Tâm Kinh" đều thuộc loại Kinh, còn "Hoa nghiêm Kim Sư Tử chương", thuộc về Luận do vị cao tăng đời Đuờng là Pháp Tạng viết ra.

Pháp Tạng là người sáng lập thực tế của tông pháp Hoa Nghiêm tông rất quan trong Phật giáo Trung Quốc. Sau này được tôn là Hoa Nghiêm Tam tổ. Ông chẳng những là nhà lý luận Phật giáo cũng là nhà phiên dịch Kinh Phật có vai trò quan trọng ở đời Đường. Ông còn là một đại thư pháp gia và người hoạt động tích cực cho giao lưu văn hóa ba nước Trung - Nhật - Triều.

Pháp Tạng sinh năm thứ 17 đời Trinh quan Đường Thái Tông (Công nguyên 643) và mất vào năm đầu Tiên Thiên Đường Huyền Tông (CN 712), gốc gác người Khang Cư Tây Vực, tổ tiên nhiều đời làm Thừa Tướng nước Khang Cư, đến đời ông (Tổ phụ) mới đến định cư ở Tràng An đời Đường.

Pháp Tạng đến năm 17 tuổi theo Hoa Nghiêm đại sư Trí Nghiêm ở chùa Vân Hoa học tập kinh "Hoa Nghiêm" trước sau tới chín năm. Năm 27 tuổi, ông chính thức xuất gia làm tăng nhân.

Đối với Hoàng thất nhà Đường, Pháp tạng có quan hệ rất tốt, nhất là quan hệ với Vũ Tắc Thiên càng mật thiết. Khi ông còn là một nhà sư trẻ mới đi tu, Vũ Tắc Thiên đã rất hâm mộ ông. Năm đầu Thông thiên (C.n.696) Pháp Tạng phụng chiếu huyên giảng "Kinh Hoa Nghiêm", có ánh sáng trắng từ miệng phát ra, chốc lát thành vòng tròn. Vũ Tắc Thiên đã sai 10 vị cao tăng của kinh đô ghi lấy hiện tượng này.

Lại một lần Vũ Tắc Thiên sai Pháp Tạng khai giảng "Kinh Hoa Nghiêm", khi giảng đến "Hoa Nghiêm thế giới phẩm" thì giảng đường dậy đất chấn động. Vũ Tắc Thiên rất phấn khởi cho rằng đây là trời giáng điềm may.

Do Pháp tạng được Vũ Tắc Thiên tín phụng, Vũ Tắc Thiên đã ban tứ danh hiệu "Hiền Thủ" cho ông. Vì vậy Pháp Tạng còn có tên hiệu là Hiền Thủ Đại Sư. Hiền thủ là tên Bồ tát trong "Kinh Hoa Nghiêm" Pháp Tạng từng nhiều lần giảng giải Kinh Hoa Nghiêm cho Vũ Tắc Thiên, mà Kinh Hoa Nghiêm hòan hảo huyền diệu thì cực kỳ thâm uyên, đến nỗi một con người thiên tư hơn người như Vũ Tắc Thiên cũng cảm thấy khó hiểu nổi. Pháp Tạng phải lấy con sư tử vàng (Kim Sư Tử) trấn điện trong cung làm ví dụ nông sâu giảng giải ý nghĩa thâm uyên, huyền diệu của Kinh Hoa Nghiêm. Sau này các đệ tử của Pháp Tạng đem bài giảng lần đó ghi lại, chỉnh lý thành sách, đó là nguồn gốc cuốn sách "Hoa nghiêm Kim Sư Tử chương".

"Hoa Nghiên Kim Sư Tử chương" là tác phẩm cuối đời của Pháp Tạng, vì vậy tư tưởng trong tác phẩm cực kỳ tinh túy thành thục, bản luận văn này lời giản dị, ý sáng sủa, vừa bao quát toàn diện lại tập trung phản ánh được thể hệ tư tưởng của Hoa Nghiêm Tông, có thể nói đây là tác phẩm tiêu biểu của lý luận Hoa Nghiêm Tông.

Mục đích căn bản của tu hành Phật giáo là rũ bỏ được khổ não sinh mệnh, siêu việt cái hữu hạn, cái vô thường mà tiến vào cái vô hạn, cái vĩnh hằng, nói theo lời riêng của Phật giáo tức là thành Phật. Cái cơ bản của Kinh tịch Phật giáo đều là vì mục đích đó mà biên soạn ra. "Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương" cũng làm như vậy. Nhưng so sánh với các tông giáo khác, thì Phật giáo rất đề cao việc lấy trí tuệ cầu giải thoát, đạt tới Phật trí mỹ mãn hoàn hảo là điều kiện căn bản thành Phật. Vì vậy tư tưởng trung tâm của "Hoa Nghiêm Kim Sư Tử chương" là làm rõ loại trí tuệ hoàn hảo mỹ mãn đó.


 

Hoa Nghiêm Kim Sư Tử chương chia thành 10 tiết, 10 tiết đó lại theo bốn phương diện mà luận thuật về tư tưởng trung tâm của tác phẩm. Từ tiết thứ nhất đến tiết thứ năm của bài giảng là lý luận cơ bản của Phật giáp - học thuyết về duyên khởi sắc không. Phật giáo cho rằng mọi sự vật trên thế giới đều dựa vào các loại điều kiện (nhân duyên) hòa hợp lại mà nảy sinh ra và tồn tại. Bản thân chúng không có tính quy định tự thân, đều là hữu hạn và vô thường, không thể tồn tại vĩnh viễn bất biến, có tức là "sắc không". Người đời lấy cái tồn tại hư ảo đó coi là một điều chân thực, là bởi do cái lòng vọng tưởng ở con người nó tác quái. Pháp Tạng tiến thêm một bước nhận rằng: sự vật tuy là hư ảo, nhưng loại tồn tại hư ảo đó cũng là một loại tồn tại, "chân không" không cản trở "ảo hữu". Ngoài ra, tuy rằng cái tồn tại hư ảo của sự vật là do nơi cái tâm vọng tưởng của con người đưa đẩy tới, nhưng bản thể cái tâm vọng tưởng và chân tâm cũng không hề mâu thuẫn tuyệt đại bất biến. Mặt khác lại có thể tùy duyên mà thành tựu nên vạn vật vì vậy không hẳn phải loại bỏ tính biến kế sở chấp, mà chỉ cầu thực tính viên hành. Cả hai đều thông dung vô ngại. Luận thuyết này của Pháp Tạng đã đặt cơ sở cho lý luận về viên dung Tiết thứ sáu biện luận về học thuyết pháp giáo của Hoa Nghiêm Tông, tức là đứng trên lập trường của Hoa Nghiêm Tông mà phân chia và đánh giá lý luận cao thấp của các tông pháp Phật giáo.

Pháp Tạng chia các học thuyết của phái Phật giáo thành 5 đẳng cấp. Tức là:

- Ngu pháp thanh văn giáo

- Đại thừa thủy giác

- Đại thừa chung giác

- Đại thừa đến giác

- Nhất thừa viên giác

Pháp Tạng cho rằng học thuyết Hoa Nghiêm Tông thuộc về Nhất Thừa viên giác cao nhất. Có điều trong năm luận phái biệt của Phật giáo trong năm đẳng cấp đó tuy có phân biệt cao thấp nhưng giữa chúng không hề có mâu thuẫn đối lập mà là cái này bao dung cái kia. Như vậy, Pháp Tạng đã từ trong thực tiễn xã hội điều hòa được sự phân cách học thuyết các pháp Phật giáo, xác lập địa vị ưu việt của lý luận Hoa Nghiêm, rồi từ trên lĩnh vực lý luận làm rõ tư tưởng tiết học viêm dung vô ngại.

Tiết thứ Bảy giảng về "Thập huyền"

Tiết thứ Tám giảng về "Sáu tướng"

Hai tiết này tập trung làm rõ Phật trí viên dung vô ngại. Pháp Tạng đã đưa thuyết duyên khởi của Phật giáo tới mức phát triển thành thuyết duyên khởi vô cùng (vô tận duyên khởi). Ông từ cái chỉnh thể và cái bộ phận, cái đồng nhất và cái khác biệt, cái sinh thành và cái hủy diệt, cái bản thể và cái hiện tượng, hiện tượng và hiện tượng, một và nhiều, tâm và vật, các loại mâu thuẫn gộp lại, giảng giải về quan hệ giữa những mâu thuẫn đó dựa vào nhau tồn tại, thẩm thấu, hòa quyện và bao hàm, rồi từ đó đi tới kết luận "Lục tướng viên dung", "thập huyền vô ngại".

Xét các điều kiện nêu trên, thì tuy nội dung tác phẩm có bốn phương diện, nhưng nội dung bốn phương diện đó đều biểu đạt một chủ đề, tức tư tưởng viên dung vô ngại.

Kết cấu toàn bộ tác phẩm cực kỳ nghiêm cẩn, xét theo lý luận cơ bản của Phật giáo - học thuyết duyên khởi sắc không được mở đầu bài giảng, đến việc quy kết tiến trình tiến vào Niết bàn cảnh giới, logic rất chặt chẽ, biện luận tinh thâm, đây là một luận văn triết học ưu tú.

"Hoa Nghiêm Kim Sư Tử chương" sở dĩ đạt tới thành tựu lý luận cao như vậy là do tác phẩm đã tiếp thu được học thuyết lý luận các phái Phật giáo về trước, như Đại thừa Không tâm và Hữu tâm của Ấn Độ, và các học thuyết Trung Hoa nư luận điểm của Nhiếp luận sư và học thuyết của Thiên Đài Tông và Thức Tông .v.v...

"Hoa Nghiêm Kim Sư Tử chương" tuy tiếp thu rộng rãi học thuyết các phái, nhưng không hề đem hòa trộn giản đơn vào một mớ, mà có cải tạo, sáng tân. Chẳng hạn như tác phẩm có kế thừa học thuyết duyên khởi của Không Tông Ấn Độ, nhưng lại không vừa lòng về quan điểm cho rằng hết thảy đều không của Không Tông Ấn Độ, mà cho rằng hiện tượng tuy hư ảo, nhưng bản chất thì lại chân thực, chân không và ảo hữu không mâu thuẫn nhau, cả hai đều dựa vào nhau tồn tại và dựa vào nhau kết hợp (giao dung). Chính do có sự kế thừa mà vẫn sáng tạo đó, Hoa Nghêm Kim Sư Tử chương mới xác lập được một thế hệ lý luận viên dung tinh vi, tuyệt diệu như vậy.

 

Bài thuyết giảng Phật giáo Hoa nghiêm Kim Sư Tử chương


Tiết thứ nhất: Rõ thuyết duyên khởi

Nói rằng vàng không có tự tính (tính quy định tự thân). Nhờ bàn tay khéo léo của người thợ tạo tác (duyên) nên mới có hình tướng sư tử (khởi). Khởi được nhờ duyên, gọi là duyên khởi.

Tiết thứ nhì: Bản lẽ sắc không

Nói rằng hình tướng sư tử là hư không, duy chỉ vàng là thật. Sư tử không "hữu", chất vàng không "vô" nên gọi sắc không. Sắc không không có bản thể chân thực tự thân phải thông qua sự vật cụ thể mà thể hiện, sắc không không phương ngại gì cái tồn tại ảo hữu, nên nói rằng không phải cái không tuyệt đối (đãn không), đó gọi là "sắc không".

Tiết thứ ba: Định ba thứ tính

Trong cơn mê tình, vọng kiến (không tỉnh táo, sáng xuốt) nhận sư tử là "hữu" gọi là thiên kế.

Coi sư tử tựa như có, gọi là ỷ vào nó (ỷ tha)

Tính của vàng chẳng biến, nên gọi là viên thành (viên mãn chân thực)

Tiết thứ tư: Làm sáng tỏ cái vô tướng

Nói rằng tìm lấy vàng đi, sư tử chẳng còn. Ngoài vàng chẳng còn thấy tướng sư tử khả đắc, nên gọi là vô tướng.

Tiết thứ năm: Nói về vô sinh

Nói rằng đúng lúc thấy sư tử sinh ra, đó là vàng sinh ra, ngoài vàng thật ra chẳng có vật gì. Sư tử tuy có sinh diệt, nhưng bản thế vàng không tăng giảm, cho nên nói là vô sinh.

Tiết thứ sáu: Luận về ngũ giáo

1. Sư tử dẫu là nhân duyên (điều kiện) của pháp, nghĩa là có sinh có diệt, thực ra không có hình tướng sư tử khả đắc, đây chính là ngư pháp thanh văn giáo.

2. Vì do pháp duyên sinh, thứ thứ đều không có tự tính, triệt để là không, đây là đại thừa thủy giáo.

3. Tuy rất triệt để duy không, nhưng lại chẳng hề trở ngại ảo hữu. Duyên sinh giả hữu (sinh ra từ điều kiện nên cái có chỉ là giả dối) hai tướng tồn tại song đôi, đấy là đại thừa chung giáo.

Hai tướng ấy, tranh đọat nhau, rồi cùng tiêu vong, khiến người ta chẳng biết là "hữu" cũng chẳng biết là "vô" (không) tới chỗ cái cảnh giới (tâm trạng) chẳng hiểu ra thế nào (vô sở đắc). Đấy là đại thừa đốn giáo.

5. Khi vọng tình (cái tình lệch lạc, bệnh hoạn) đã diệt, các bản thể chân như tự nhiên xuất lộ. Bản thể và hiện tương là chung hợp, vạn sự vạn vật đều là hiển hiện của bản thể. Nhờ bản thể hiển hiện trong vạn vật mà vạn vật phong phú nào không hỗn độn. Tất cả là một, thẩy đều không có tính, một là tất cả, cho nên nhân quả rõ ràng. Bản thể và hiện tượng cùng bao dung, chuyển hóa, tự tại hiền hòa, đó là nhất thừa viên giáo.

 

Tiết thứ bảy: Dẫn dụ thập huyền

(Thập huyền là pháp môn quan sát sự vật, nhận thức chân lý, cũng là pháp môn thành Phật. "Học thuyết Thập huyền" là sáng tạo lý luận trọng yếu của Pháp Tạng. Ông đã đưa thuyết duyên khởi của Phật giáo phát triển thành thuyết duyên khởi không cùng, từ đó mà luận giải về cảnh giới trí tuệ thành Phật Pháp tạng cho rằng cảnh giới trí tuệ đó là thứ mà chúng sinh vốn dĩ đều có, chẳng qua vì điên đảo vọng tưởng mà u mê lầm lạc, chúng sinh rồi ra sớm muộn sẽ giác ngộ trí tuệ đó, và rồi cũng thành Phật).

1. Vàng (bản thể) cùng sư tử (hiện tượng) cùng hình thành nên, viên mãn cụ túc (hoàn hảo mĩ mãn) gọi (sự kiện này) là đồng thời cụ túc tương ứng môn (trí tuệ về tính đồng thời cụ túc tướng).

2. Nếu mắt của sư tử tận phản ánh sư tử, thì tất cả thuần là mắt, nếu tai của sư tử tận phản ánh sư tử, thì tất cả thuần là tai. Mọi căn (mọi khí quan cảm giác) đều phản ánh tướng, thì đều đầy đủ và mọi thứ đều tạp, mọi thứ đều thuần, chứa chất viên mãn, vì vậy gọi là "chư tàng thuần tạp cụ đức môn (môn đủ đức mọi cái chứa cả thuần cả tạp).

Đại ý: Xin dịch câu của nhà xuất bản Yếm-sơn Bắc Kinh giải thích đoạn kinh rất khó này: Mỗi khí quan cảm giác của sư tử vàng đều bao dung phản ánh toàn bộ tướng sư tử. Mắt tai các căn đều có sự bất đồng với nhau, nhất nhất đều tạp.

6. Vàng và sư tử, hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc một hoặc nhiều, rất thuần rất tạp, có sức không có sức, là cái này là cái kia, chủ và khách đều rạng rỡ, lý và sự cùng hiển hiện, tất thẩy đều tương dung, không trở ngại vị trí yên ổn của nhau, nhỏ bé cũng bao hàm tất cả (thế) gọi là vị tế tương dung an lập môn.

7. Mỗi chi tiết tai, mắt của sư tử, mọi mây lông đều có sư tử vàng, như vậy sư tử vàng trong vô số những mây lông đều có vô số những sư tử vàng. Vả lại trong mỗi một mẩy lông lại bao dung vô số những sư tử vàng mà mẩy lông khác bao hàm, những sư tử vàng đó lại quy về trong một mẩy lông. Sự vật cũng tương tự như vậy. Trong mỗi một sự vật đều có vô số sự vật, chúng tương hỗ bao hàm nhau trùng trùng điệp điệp, vô cùng vô tận như vòng lưới của thiên đế Nhan đề la, ánh chiếu lẫn nhau, đời kiếp không ngừng, đó gọi là Nhân đà la cương cảnh giới môn.

8. Nói về sư tử để biểu thị cái vô minh. Nói về vàng, thể hiện rõ cái chân tính. Tổng hợp nói về lý và sự, là tình huống a lại thức, có thể giúp con người thông qua sự vật nhận thức thấu bản chất, là sự sản sinh ra pháp môn của sự giác ngộ vì vậy gọi là thác sự hiến pháp sinh giải môn.

9. Sư tử là sự vật có sự tạo tác mà sinh thành (hữu vi chi pháp) khoảnh khắc sinh diệt. Trong khoảnh ngắn ngủi chia làm ba cõi, gọi là quá khứ, hiện tại, tương lai, tổng cộng có vị thế ba ba, để lập chín đời, tức làm nảy sinh một đoạn pháp môn. Tuy gọi rằng chín đời, nhưng mỗi đời đều có cách biệt tương hỗ tồn tại, dung thông vô ngại, cùng là một khoảnh khắc, gọi là thập thế cách pháp dị thành môn.

10. Vàng và sư tử, họăc ẩn hoặc hiện, hoặc một hoặc nhiều, mỗi sự vật đều không có tự tính, đều do chân tâm hồi chuyến. Có sự có lý, có thành có lập, gọi là duy tâm hồi chuyển thiên thành môn.

 

Tiết thứ tám: Khái quát lục tướng

Sư tử là tổng tướng, năm căn sai biệt là biệt tướng. Các bộ phận của sư tử vàng là do cùng chung một nhân duyên mà sinh khởi, nên là đồng tướng. Mắt, tai, các căn bản của sư tử vàng không thể hỗn đồng, đó là dị tướng. Các căn của sư tử vàng cộng đồng cấu thành sư tử tướng đó là thành tướng. Mỗi căn đóng một vị trí, không cùng lúc cấu tạo thành sư tử tướng, đó tức là hoại tướng.

Tiết thứ chín: Thành Bồ Đề

Bồ đề, là nói về đạo vậy, về giác vậy. Rằng khi thấy sư tử, tức là thấy tất cả mọi pháp hữu vi, chẳng đợi khi nó hủy diệt. Vốn xưa nay tịch diệt. Hồi bỏ mọi sự lấy, bỏ, tức là con đường đó, hòa nhập vào cái đại dương mênh mông của trí tuệ tát - bà - nhược (tất cả mọi loại trí) cho nên gọi tên là đạo. Tức là hiểu được rằng từ nguyên thủy đến nay, mọi sự điên đảo, vốn không có thực, gọi tên là giác. Cuối cùng có đủ mọi loại trí, tên xưng bồ đề.

Tiết thứ mười: Nhập Niết bàn

Nhận thấy sư tử và vàng, hai tướng đều hết, phiền não không sinh. Tốt xấu hiện rõ trước mắt, tâm an như biển, vọng tướng đều hết, không có điều bức bách, gỡ khỏi ràng buộc, thát khỏi trướng ngại, vĩnh viễn dứt bỏ nguồn khổ, vậy gọi là nhập Niết bàn.


 

Bình luận đánh giá
Kim Cương Kinh, Tâm Kinh, Hoa Nghiêm Kim Sư tử chương



Ba nhà Nho, Thích, Đạo là ba chủ lưu lớn của tư tưởng truyền thống Trung Quốc, trong đó Nho gia và Đạo gia (bao gồm Đạo giáo) đều là văn hóa tư tưởng sinh tại đất gốc Hoa Hạ, mà ở thời Cổ đại thì Phật giáo lại là thứ "Văn hóa phương Tây đến từ Ấn Độ"

Phật giáo và Trung quốc khoảng giữa Lưỡng Hán. Vua Minh đế đời Đông Hán do đêm mộng thấy người vàng, đến năm 8 thời Vĩnh Bình, tức 65 công nguyên, sai sứ đi Tây Vực cầu pháp. Trong khoảng thời gian rất lâu dài sau đó, ảnh hưởng xã hội của Phật giáo không lớn lắm. Vì thời đó tình hình xã hội tương đối ổn định, con nguời còn đắm đuối vào nền Kinh học và lễ giáo đạo Nho, Phật giáo chỉ có thể dựa vào phương thuật đạo Hoàng lão để lưu hành. Cuộc đại khởi nghĩa Hoàng Cân cuối đời Hán, rồi tiếp đến chuyện cuộc hỗn chiến quân phiệt, gây nên cánh xương trắng phơi ngoài đồng, nghìn dặm không tiếng gà gáy, hiện thực xã hội thảm thương khiến con người phải suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Cho nên thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều, gianh giới Nho gia suy vi mà huyền học thì nổi lên, Phật giáo cũng chuyển mà dựa vào huyền học; các học tư biện của huyền học và ban nhược học của Phật giáo cùng thúc đẩy nhau tiến tới, kết quả giúp cho Phật giáo phát triển rất nhanh, đi vào giới trí thức Trung Quốc - trong giai tầng sĩ đại phu.

Hậu kỳ thời Đông Hán, Phật giáo lại chuyển sang nghiên cứu về lý luận Phật tính Niết bàn, nhờ đó rời bỏ ảnh hưởng của huyền học, đi trên đường độc lập phát triển. Rồi thì mở ra cao trào mới của tư tưởng Trung quốc mở đường khoa tâm tính học. Thời kỳ Tùy - Đường, các tông phái Phật giáo xuất hiện rầm rộ như măng xuân được mưa, tiến đến mở đầu Thiên đài tông, hoa nghiêm tông và Thiền tông, khác biệt với Ấn Độ, và có thể coi là tông phái Phật giáo của Trung Quốc.

Từ thời Lưỡng Hán đến Tùy Đuờng, người Trung Hoa tốn mất thời gian sáu trăm năm để phiên dịch, tiếp thu, cải tạo và phát triển tư tưởng Phật giáo: đến thời Tùy - Đường, cuối cùng người Trung Hoa đã đưa Phật Giáo thành của mình, làm cho nó trở thành một thứ văn hóa tư tưởng của chính mình.

Vào thời kỳ đó, mặc dầu có hàng bao nhiêu quanh co, nhưng cái biểu hiện chủ lưu vẫn là ở chỗ biểu hiện tinh thần mạnh dạn nắm lấy, không hề sợ sệt, đó là một loại phong độ đường hoàng nước lớn, là mẫu mực (điển phạm) của dân tộc Trung Hoa hấp thu cải tại văn hóa ngoại lai.

Việc dịch kinh điển Phật giáo ra Hán ngữ có thể nói là việc chở đầy xe, chất đầy nhà (nguyên văn Hán ngữ hãn ngưu sung đống, nghĩa là dùng trâu kéo, trâu tóat mồ hôi, xếp vào nhà chất đầy đến mái) trong đó có những bộ kinh điển như Kinh Kim Cương và Tâm Kinh, ảnh hưởng của những bộ này đối với lịch sử văn hóa Trung Quốc rất sâu và rất rộng. Hiện còn bản kinh phật khắc gỗ sớm nhất là Kim Cương Kinh vào năm Hàm thông Đường Ý Tông (860 - 874)

Từ bắt đầu Đông Tấn Nam Triều, do ảnh hưởng của Phật giáo ngày càng mở rộng, giai cấp thống trị dần dần ý thức tới sự quan trọng của việc lợi dụng Phật giáo để ổn định xã hội. Chẳng hạn như Tống Văn đế thời Nam Triều đã nói: nếu làm cho toàn lãnh thổ đều được như thế này thì ta yên ổn Thái Bình, còn gì hơn nữa. Ý nói: Nếu người người trong thiên hạ đều tin Phật, thì có thể yên hưởng thái bình vậy. Đường Vũ sơ càng nhiệt thành tín phụng Phật giáo. Dường như ông đã nâng cao Phật giáo bởi địa vị quốc giáo, lợi dụng Phật giáo làm công cụ trọng yếu thống trị quốc gia. Ông đã ba lần làm nô tự, rồi sau đó lại do các đại thần mang vàng chuộc về.

Vị Hoàng đế phong lưu Đường - Huyền - Tông, để tăng cường sức thống trị tư tưởng, đã tích cực thực hành chính sách ba giáo đều trọng và tuyển dụng trong Tam giác mỗi giáo một bản kinh điển, tự tay mình gia công dịch thuật và chú giải, ban hành khắp thiên hạ. Về Nho giáo thì tuyển ra Hiếu kinh. Đạo giáo thì tuyển ra Đạo Đức Kinh, từ Phật giáo thì tuyển ra Kim Cương Kinh. Kinh Thái Tố là Chu Nguyên Chương từng đã là tiểu hòa thượng, khi đã lên ngôi Hoàng đế đối đãi với Phật giáo rất có tình nghĩa. Ông nhận ra rằng Phật giáo có lợi cho thống trị, có thể giúp vượng cương mà giữ đạo. Ông đã từng biên sọan cuốn Thái tố tập chú Kim Cương Kinh (cuốn này đã thất lạc). Minh Thành Tổ Chu Đệ với sự giúp đỡ của nhà sư Đạo Diễn (Diêu Quảng Hiếu) đã phát động chiến dịch dẹp nạn (tình nan chi dịch) cướp ngôi vua của người cháu Kiến Văn Đế. Để biện hộ cho hành vi thóan nghịch của mình, ông đã ngụy tạo ra vụ Từ Hoàng Hậu, mộng thấy Phật nói kinh đại công đức hiếm hoi bậc nhất, sau này lại thân biên soạn sách Kim Cương Kinh tập chú.

Kim Cương kinh, Tâm kinh, Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Vì ba bộ điển tịch đó đều là những tác phẩm triết học cực thâm diệu, Tây Thiên Nhị Thập bát tổ, vị tổ đầu của Thuyền Tông Trung Quốc Đạt ma đại sư mỗi khi bắt dầu, bắt các đệ tử lấy Kinh Lăng Già làm ấn chứng, sau này có một chú tiều phu nhỏ tuổi ở sâu vùng núi Lĩnh nam tỉnh Quảng Đông nghe có người tụng kinh trong Kim Cương Kinh "ứng vô sở chú nhi sinh kỳ tân" (chớ để ý (vào cái vật) mà sinh cái tâm) thì bỗng trong lòng đại ngộ, chú tiều phu nhỏ này trở thành vị tổ thứ sáu của Thiền tông Tuệ năng Đại Sư, và Kinh Kim cương được Thiền tông coi trọng tín phụng. Thiền tông sau này truyền rộng trong thiên hạ, đã tạo ra ảnh hưởng rất lứn đối với tâm học của Lục Cửu Uyên, Vương Dương Minh. Nếu nói Thiền tông ảnh hưởng đến tâm học của Lục Cửu Uyên, Vương Dương Ninh, thì tư tưuởng của Hoa Nghiêm tông cũng đã ảnh hưởng tới lý học của Trình Di, Chu Hi. Trình Di đã từng nói: Thế và Dụng là nhất nguyên, có và không là không cách biệt (thể dụng nhất nguyên, hữu vô vô giáo). Lại nói: Mọi việc đều có lý (phẩm sự giai hữu lý), muôn lý nảy ra từ một lý (vạn lý xuất vu nhất lý). Chu Hi thì nói: muôn vật đều có cái lý, cái lý đều cùng nẩy sinh từ một nguồn gốc (vạn sự giai hữu lý, lý giai đồng xuất nhất nguyên). Nhưng nếu không cùng một vị trí thì cái dụng của lý không là một, như làm vua phải nhân, làm tôi phải kính, làm con phải hiếm, làm cha phải từ, vật nào vật ấy đều đủ cái lý của nó, nên vật nào vật ấy mới khác nhau ở cái dụng của nó (đãn sơ cư chi vị bất đồng, tắc kỳ lý chi dụng bất nhất. Như vi quân tu nhân, vi thần tu kính, vi tử tu hiếu, vi phụ tu tử, vật vật các cụ kỳ lý, nhi vật vật các dị kỳ dụng. Chu tử ngữ loại Chu Hi còn dẫn dụng Vĩnh gia chứng đạo ca để nơi rõ học thuyết Lý nhất phân thủ của mình. Ông nói: Họ Thích (Đức Phật) nói: một mặt trăng soi khắp mọi mặt nước, mọi mặt nước có ảnh trăng soi một mặt trăng. Vây họ Thích đã nhận rõ ra đạo lý. Thật ra, họ Thích đã thấy trước đạo lý đó, còn Chu Hi chỉ là người thừa hưởng đạo lý đó của Phật giáo mà thôi. Tóm lại, trong học thuyết "lý nhất phân thù" của họ Trình, họ Chu, chúng ta thấy khắp đều có hình ảnh lý luận một là tất cả, tất cả là một của Hoa Nghiêm Kinh Sư Tử chương.